Đề xuất xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các nền tảng văn học mạng

Đề xuất xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các nền tảng văn học mạng
Đại biểu Hoàng Minh Hiếu phát biểu tại phiên họp. Ảnh: Quochoi.vn

Sáng nay, 9/8, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Để phát huy tinh thần xây dựng pháp luật kiến tạo phát triển, mở đường cho sự phát triển, đại biểu Quốc hội kiến nghị dự thảo Luật bổ sung quy định về việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các nền tảng văn học mạng nội địa đủ điều kiện, cho phép vận hành sớm dưới sự giám sát của cơ quan quản lý.

Quy định rõ hoạt động có tính chất xuất bản trên không gian mạng

Hoạt động xuất bản trên không gian mạng là vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm, cho ý kiến.

Đại biểu Nguyễn Minh Tâm (Đoàn Quảng Trị) đề nghị bổ sung quy định rõ ngay trong Luật các dấu hiệu xác định “hoạt động có tính chất xuất bản trên không gian mạng”, đồng thời làm rõ các trường hợp loại trừ, cơ chế quản lý, chủ thể chịu trách nhiệm và trình tự xử lý.

Phân tích lý do, đại biểu cho rằng, khái niệm “nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng” quy định tại khoản 18 Điều 4 của dự thảo hiện còn có phạm vi rộng nhưng chưa xác định rõ tiêu chí nhận diện như quy mô phổ biến, tính thường xuyên, mục đích hoạt động cũng như các trường hợp không thuộc phạm vi điều chỉnh.

Điều này có thể dẫn đến khó áp dụng thống nhất và dễ chồng chéo với pháp luật về báo chí, thông tin điện tử, mạng xã hội, giao dịch điện tử, an ninh mạng và sở hữu trí tuệ.

“Thực tiễn cho thấy nhiều nền tảng số như blog, kênh nội dung hoặc hệ thống học liệu đang thực hiện các hoạt động gần với xuất bản nhưng chưa được phân loại rõ ràng, thậm chí có tình trạng “xuất bản trá hình” trên môi trường mạng, phát hành nội dung có tính hệ thống nhưng không chịu sự điều chỉnh của Luật Xuất bản”, đại biểu nói.

Dự thảo Luật quy định, nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng là nội dung do tổ chức, cá nhân tạo lập và phổ biến đến công chúng trên không gian mạng mà không thông qua nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được phép xuất bản theo quy định của Luật này hoặc không theo quy trình xuất bản quy định tại Luật này, được thể hiện dưới dạng tác phẩm hoặc tài liệu độc lập, hoàn chỉnh, có thể được người tiếp nhận hiểu và sử dụng mà không cần phụ thuộc vào tác phẩm, tài liệu khác, có hình thức hoặc phương thức thể hiện tương tự xuất bản phẩm và được lưu trữ, có thể truy cập sau thời điểm phổ biến.

Đại biểu Nguyễn Vũ Trung (Đoàn TP Hồ Chí Minh) bày tỏ băn khoăn về khái niệm nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng. Theo đại biểu, khái niệm “tương tự xuất bản phẩm” như dự thảo Luật vẫn chưa đủ để xác định.

“Một báo cáo khoa học dạng PDF đưa lên văn phòng dữ liệu mở, một cẩm nang chuyên nghiệp, một podcast, newsletter hay một tài liệu trên website... có thể đều mang tính chất tương tự xuất bản phẩm…Nếu không xác định được biên giới của xuất bản trên không gian mạng thì cơ quan quản lý khó thực thi, còn người dân và doanh nghiệp cũng không biết được lúc nào một file PDF, podcast hay một kho học liệu lại trở thành đối tượng của pháp luật xuất bản”, đại biểu nói.

Do đó, đại biểu đề nghị Luật thiết kế rõ 3 tầng bao gồm xuất bản phẩm, sản phẩm thông tin thực sự có tính chất xuất bản, thông tin thông thường trên internet; đồng thời loại trừ rõ bài đăng mạng xã hội, blog cá nhân, trao đổi cá nhân, dữ liệu nghiên cứu mở, thông tin nội bộ... trừ khi được tổ chức thành hoạt động xuất bản.

Cùng với đó, đại biểu cũng đề nghị hoàn thiện cơ chế trách nhiệm của nền tảng số, đặc biệt là nền tảng xuyên biên giới. Hoan nghênh dự thảo đã bổ sung nghĩa vụ về đại diện pháp lý, giữ nhiệm vụ xác định chủ thể phát hành, gỡ bỏ nội dung vi phạm đối với tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ vào Việt Nam, đại biểu đề nghị luật quy định thêm nguyên tắc và trình tự gỡ bỏ, bao gồm phải có căn cứ và chủ thể yêu cầu, có thời hạn và thông báo cho người đăng tải, có quyền giải trình hoặc khiếu nại, có cơ chế khôi phục nội dung khi yêu cầu gỡ bỏ không có căn cứ.

Bổ sung quy định nghĩa vụ của nền tảng phổ biến tác phẩm văn học trên không gian mạng

Trong khi đó, đại biểu Hoàng Minh Hiếu (Đoàn Nghệ An) tập trung góp ý về quy định liên quan đến văn học mạng.

Theo đại biểu, so với thời điểm năm 2012, khi ban hành Luật Xuất bản thì hiện nay, văn học mạng không còn là một hiện tượng mà trở thành một nền công nghiệp có quy mô rất lớn ở rất nhiều nước.

“Năm 2025, Trung Quốc có hơn 33 triệu tác phẩm văn học mạng và hơn 500 triệu độc giả. Văn học mạng là điểm khởi đầu cho một chuỗi công nghiệp văn hoá như phim, trò chơi điện tử. Thị trường chuyển thể tài sản trí tuệ từ văn học mạng ở Trung Quốc đạt 367 tỷ nhân dân tệ, gấp hơn 7 lần thị trường xuất bản truyền thống. Ở Hàn Quốc, quy mô ngành truyện tranh mạng năm 2024 cũng đạt khoảng 2 nghìn tỷ won”, đại biểu dẫn chứng.

Theo đại biểu, ở Việt Nam, tiềm năng phát triển văn học mạng cũng là rất lớn. Việt Nam có dân số trẻ, tinh thần học hỏi cao, tỷ lệ dùng internet ở vào tốp dẫn đầu trong khu vực.

Vì vậy, đại biểu bày tỏ đồng tình với nhiều quy định trong dự thảo Luật lần này đối với vấn đề xuất bản tác phẩm trên không gian mạng.

Tuy nhiên, đại biểu đánh giá, dự thảo Luật vẫn được thiết kế trên giả định truyền thống là một tác phẩm được xuất bản phải là một bản thảo hoàn chỉnh, chưa phù hợp với tính chất của văn học mạng.

Theo đó, tác phẩm được hình thành dần qua nhiều chương, qua các lần tương tác với độc giả, và trong quá trình đó nội dung là do tác giả là tự đăng tải, chức năng biên tập nằm ở nền tảng chứ không ở nhà xuất bản. Đây là một mô hình hoàn toàn khác với xuất bản truyền thống.

Theo hướng này, dự thảo Luật định nghĩa "nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng" với tiêu chí tương tự xuất bản phẩm. Nhận định tiêu chí này đúng với một cuốn sách điện tử, nhưng không đúng cho một tác phẩm văn học mạng, đại biểu đề nghị chuyển tiêu chí nhận diện nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng sang "được công bố có hệ thống, được lưu trữ và có thể truy cập lại" để xác định rõ tác phẩm hình thành dần theo các chương vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh dù chưa hoàn thành.

Cùng với nội dung này, đại biểu đề nghị bổ sung quy định riêng tại Điều 22 và Điều 28 cho tác phẩm công bố theo kỳ theo nguyên tắc đăng ký một lần theo tác phẩm chứ không theo từng chương; nộp lưu chiểu bản hoàn chỉnh tại thời điểm kết thúc đăng tải hoặc tại thời điểm chuyển thành xuất bản phẩm điện tử.

Cùng với đó, đại biểu Hoàng Minh Hiếu cũng đề nghị bổ sung một điều mới về nghĩa vụ của nền tảng phổ biến tác phẩm văn học trên không gian mạng, theo nguyên tắc phân tầng.

“Trước hết, cần phải khẳng định, nền tảng phổ biến tác phẩm văn học mạng cần được quản lý khác biệt với nền tảng thương mại điện tử thông thường. Nền tảng có tính chuyên nghiệp phải đăng ký hoạt động, có người chịu trách nhiệm nội dung và bộ phận biên tập có đủ năng lực. Nền tảng phải có cơ chế xác thực danh tính thực của tác giả trong hệ thống mặc dù có thể cho phép tác giả hiển thị theo bút danh; phải tổ chức phân loại nội dung theo độ tuổi và có bộ lọc quảng cáo an toàn; và phải lưu nhật ký phục vụ hậu kiểm”, đại biểu nói.

Ngoài ra, đại biểu đề nghị bổ sung thêm 1 điều về dữ liệu nhận diện và truy xuất nguồn gốc số để vừa phục vụ quản lý nhà nước, vừa phục vụ chính doanh nghiệp trong giao dịch bản quyền.

Cuối cùng, đại biểu cho rằng, việc lùi hiệu lực thi hành quy định về "nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng" đến ngày 01/01/2029 tuy thể hiện sự thận trọng của cơ quan quản lý nhưng đồng thời cũng tạo ra một "vùng trống pháp lý" kéo dài gần 3 năm; có thể bỏ lỡ "thời điểm vàng" để xây dựng các nền tảng nội địa đủ sức cạnh tranh với các nền tảng xuyên biên giới.

Vì vậy, để phát huy tinh thần xây dựng pháp luật kiến tạo phát triển, mở đường cho sự phát triển, đại biểu kiến nghị dự thảo Luật bổ sung quy định về việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các nền tảng văn học mạng nội địa đủ điều kiện, cho phép vận hành sớm dưới sự giám sát của cơ quan quản lý.

Qua thử nghiệm, Nhà nước có thể hoàn thiện các công cụ như xác thực danh tính tác giả, bộ lọc quảng cáo an toàn, lưu lịch sử phiên bản và tiếp nhận dữ liệu tự động. Cách làm này vừa giảm khoảng trống pháp lý, vừa hỗ trợ Việt Nam phát triển nền tảng văn hóa số có năng lực cạnh tranh khu vực.

Tường Minh