Đề xuất trợ cấp một lần cho giáo viên mầm non nghỉ công tác chưa được hưởng chế độ

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Nghị quyết về chế độ trợ cấp đối với giáo viên mầm non đã nghỉ công tác nhưng chưa được hưởng chế độ.

Dự thảo được xây dựng nhằm thể hiện sự quan tâm, ghi nhận của Đảng, Nhà nước đối với những đóng góp của đội ngũ giáo viên mầm non trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Ba điều kiện để được hưởng trợ cấp

Theo dự thảo, đối tượng được xem xét hưởng trợ cấp là giáo viên mầm non, bao gồm giáo viên, cô nuôi dạy trẻ, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, chủ nhiệm nhà trẻ, phó chủ nhiệm nhà trẻ, đồng thời đáp ứng đủ 3 điều kiện.

Thứ nhất, đã có thời gian tham gia công tác, gồm giảng dạy, giáo dục, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ tại nhà trẻ, lớp mẫu giáo, lớp vỡ lòng, gọi chung là cơ sở giáo dục mầm non, ở các xã, phường, khu phố, thôn, làng, bản, nông lâm trường, đội sản xuất, hợp tác xã, nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, xí nghiệp, cơ quan… trong giai đoạn từ năm 1960 đến trước ngày 1/1/1995.

Thứ hai, đã nghỉ công tác nhưng chưa được hưởng lương hưu; hoặc có hưởng lương hưu nhưng thời gian công tác trước ngày 1/1/1995 không được tính vào thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để hưởng lương hưu.

Thứ ba, chưa hưởng chế độ theo Nghị định số 14/2020/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu nhưng chưa được hưởng phụ cấp thâm niên trong lương hưu.

Đề xuất trợ cấp một lần

Dự thảo Nghị quyết đề xuất giáo viên mầm non thuộc đối tượng quy định được hưởng trợ cấp một lần.

Trường hợp có giấy tờ chứng minh được số năm công tác, giáo viên có thời gian công tác từ đủ 3 năm, tương đương 36 tháng trở xuống tại cơ sở giáo dục mầm non, được hưởng mức trợ cấp 6,5 triệu đồng.

Nếu có thời gian công tác trên 3 năm, từ năm thứ 4 trở đi, cứ mỗi năm đủ 12 tháng được cộng thêm 800.000 đồng.

Khi tính thời gian hưởng chế độ trợ cấp một lần, nếu có tháng lẻ thì cứ đủ 1 tháng, tương đương 30 ngày, mỗi tháng được cộng thêm 67.000 đồng. Số ngày công tác còn dư không đủ 1 tháng không được tính hưởng.

Trường hợp thời gian công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non bị gián đoạn thì được cộng dồn để tính hưởng trợ cấp.

Nếu vừa có giai đoạn xác định được thời gian công tác, vừa có giai đoạn không xác định được thời gian công tác, tổng thời gian của các giai đoạn xác định được sẽ được dùng làm căn cứ tính trợ cấp.

Đối với trường hợp có giấy tờ chứng minh từng công tác nhưng không xác định cụ thể thời gian, hoặc không có giấy tờ chứng minh thời gian công tác tại cơ sở giáo dục mầm non, mức trợ cấp một lần được đề xuất là 6,5 triệu đồng.

Trường hợp đã hưởng trợ cấp một lần đối với thời gian công tác tại cơ sở giáo dục mầm non trước ngày 1/1/1995 cũng được đề xuất hưởng mức trợ cấp một lần 6,5 triệu đồng.

Với giáo viên mầm non đang hưởng lương hưu nhưng thời gian công tác tại cơ sở giáo dục mầm non trước ngày 1/1/1995 không được tính vào thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để hưởng lương hưu, dự thảo đề xuất mức trợ cấp một lần 6,5 triệu đồng.

Trường hợp giáo viên mầm non đủ điều kiện hưởng trợ cấp nhưng đã từ trần, người đại diện hợp pháp của thân nhân, gồm vợ, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, được làm hồ sơ để nhận chế độ trợ cấp.

Trường hợp giáo viên mầm non bị mất năng lực hành vi dân sự, người giám hộ hoặc người giám hộ đương nhiên theo quy định được làm hồ sơ để nhận chế độ.

Không có giấy tờ vẫn có thể được xem xét

Dự thảo Nghị quyết được xây dựng theo hướng hồ sơ, thủ tục phải bảo đảm chặt chẽ để tránh trục lợi chính sách, nhưng không gây khó khăn, phức tạp, phiền hà cho đội ngũ giáo viên mầm non đã nghỉ công tác.

Đối với trường hợp có hồ sơ, giấy tờ chứng minh thời gian công tác, hồ sơ gồm bản khai của giáo viên mầm non hoặc thân nhân, người giám hộ; kèm các giấy tờ chứng minh đã có thời gian công tác.

Trường hợp không có hồ sơ, giấy tờ nhưng có người làm chứng, hồ sơ gồm bản khai của giáo viên mầm non hoặc thân nhân, người giám hộ và bản xác nhận của 2 người làm chứng.

Trường hợp không có hồ sơ, giấy tờ và cũng không có người làm chứng, giáo viên hoặc thân nhân, người giám hộ phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi giáo viên từng có thời gian công tác.

Theo dự thảo, trường hợp có đủ hồ sơ, giấy tờ chứng minh thời gian công tác, giáo viên hoặc thân nhân, người giám hộ làm đơn đề nghị gửi UBND cấp xã nơi đăng ký thường trú để giải quyết chế độ.

Trường hợp không có hồ sơ, giấy tờ chứng minh thời gian công tác, giáo viên cần có văn bản làm chứng của 2 người, có thể là người từng quản lý, cùng công tác, người học hoặc đồng nghiệp, sau đó gửi đơn đề nghị đến UBND cấp xã nơi đăng ký thường trú.

Trường hợp không có hồ sơ, giấy tờ và không có người làm chứng, giáo viên hoặc thân nhân, người giám hộ phải có văn bản xác nhận của UBND cấp xã nơi giáo viên từng có thời gian công tác, sau đó gửi đơn đề nghị đến UBND cấp xã nơi đăng ký thường trú để được xem xét giải quyết chế độ.

 

Nhật Linh