Đề xuất thiết lập cơ chế cấp mã định danh và xác thực điện tử thống nhất, duy nhất cho chủ thể, đối tượng
(PLVN) - Chiều 11/6, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06 - Bộ Công an) tổ chức Hội nghị tham vấn chính sách của dự án Luật Định danh và xác thực điện tử.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Cục trưởng C06, Thiếu tướng Vũ Văn Tấn nhấn mạnh, việc xây dựng Luật Định danh và xác thực điện tử là kết quả của cả một quá trình phát triển về nhận thức, về thực tiễn quản lý và nhu cầu của xã hội trong suốt khoảng 5 năm qua.
Thiếu tướng Vũ Văn Tấn chỉ rõ ba giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt và quá trình hoàn thiện dần về mặt pháp lý trong xây dựng dự án Luật. Việc xác định định danh điện tử cũng là xu thế tất yếu trên thế giới. Nhiều quốc gia phát triển, đặc biệt là Liên minh châu Âu, đã triển khai thành công mô hình định danh thống nhất và liên thông dữ liệu xuyên biên giới trên cơ sở một định danh duy nhất.
Theo Cục trưởng C06, tầm nhìn của dự thảo Luật không dừng lại ở định danh con người. Trong tương lai, cần tiến tới định danh bất động sản, định danh nhà ở, định danh phương tiện, truy xuất nguồn gốc hàng hóa xuất nhập khẩu... Khi đó, định danh điện tử sẽ trở thành nền tảng cho quản trị quốc gia toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.

“Quan điểm xuyên suốt của chúng tôi khi xây dựng dự án Luật này là xây dựng luật để phát triển. Chúng ta không thể tiếp cận theo tư duy không quản được thì cấm. Luật phải tạo ra giá trị cho cả ba chủ thể: Nhà nước quản lý hiệu quả hơn; doanh nghiệp có môi trường minh bạch để phát triển; người dân được thụ hưởng những tiện ích thuận lợi, an toàn”, ông Vũ Văn Tấn khẳng định và nêu một nguyên tắc bất biến, phải đặc biệt quan tâm là bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bởi dù công nghệ phát triển đến đâu, dịch vụ được mở rộng như thế nào thì việc bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu, bảo vệ thông tin của 107 triệu người dân Việt Nam phải là yêu cầu bắt buộc và được đặt lên hàng đầu.
Với ý nghĩa hết sức quan trọng của Hội nghị để tập hợp trí tuệ của các Bộ, ngành, chuyên gia và những người trực tiếp tham gia thực tiễn, Cục trưởng đề nghị C06 tiếp thu đầy đủ, khách quan, đa chiều tất cả các ý kiến phản biện để hoàn thiện dự án Luật Định danh và xác thực điện tử với chất lượng cao nhất.
Báo cáo tóm tắt nội dung các chính sách của dự án Luật, Thiếu tá Nguyễn Quốc Huy, Phó Giám đốc Trung tâm Dữ liệu dân cư cho biết một trong những chính sách của dự án Luật là thiết lập cơ chế cấp mã định danh và xác thực điện tử thống nhất, duy nhất cho chủ thể, đối tượng, không gian, dữ liệu và quá trình giao dịch trong quản lý nhà nước, kinh tế - xã hội số

Ban soạn thảo đánh giá, việc thiết lập cơ chế cấp mã định danh và xác thực điện tử thống nhất, duy nhất cho chủ thể, đối tượng, không gian, dữ liệu và quá trình giao dịch sẽ tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế số và xã hội số tại Việt Nam.
Thực tiễn triển khai Đề án 06 trong 4 năm qua cho thấy hiệu quả rõ nét của định danh và xác thực điện tử đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân. Đến nay, Bộ Công an đã cấp hơn 71,2 triệu tài khoản định danh điện tử cho cá nhân; 860.610 tài khoản cho cơ quan, tổ chức, tương đương gần 70% doanh nghiệp đang hoạt động; đồng thời cấp 90.335 tài khoản cho người nước ngoài đến từ 148 quốc gia và vùng lãnh thổ, đạt tỷ lệ hoàn thành 98%.
Trên ứng dụng VNeID đã tích hợp 67 tiện ích, trong đó có 20,2 triệu giấy phép lái xe điện tử, 7,4 triệu đăng ký xe, 26,4 triệu thẻ bảo hiểm y tế và sổ sức khỏe điện tử, cùng hàng trăm nghìn giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và phiếu lý lịch tư pháp điện tử. Cổng Dịch vụ công quốc gia hiện có 16,4 triệu tài khoản, cung cấp 4.543/6.325 thủ tục hành chính và hoàn thành 43/53 dịch vụ công thiết yếu theo Đề án 06.
Ban soạn thảo cho rằng, hạ tầng định danh điện tử đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ các giao dịch số. Giai đoạn 2024 - 2025, kinh tế số Việt Nam đạt khoảng 36 - 40 tỷ USD, chiếm 18,3% GDP và duy trì tốc độ tăng trưởng trên 20% mỗi năm. Riêng năm 2024, thương mại điện tử bán lẻ đạt trên 25 tỷ USD, tăng 20% so với năm trước; gần 725.000 tổ chức, cá nhân kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử; số thuế thu từ thương mại điện tử đạt 116.000 tỷ đồng.
Định danh và xác thực điện tử cũng mang lại hiệu quả thiết thực trong nhiều lĩnh vực. Trong ngân hàng - tài chính, 132,4 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu sinh trắc học, giúp giảm 59% số vụ lừa đảo và tiết kiệm khoảng 1.300 tỷ đồng mỗi năm cho các tổ chức tín dụng. Trong y tế, dữ liệu liên thông của 373 cơ sở khám chữa bệnh cùng hơn 2,5 triệu bệnh án điện tử giúp tiết kiệm từ 500 - 1.000 tỷ đồng mỗi năm. Trong giao thông, việc ứng dụng xác thực bằng thẻ Căn cước và thu phí không dừng tại 163 trạm giúp tiết kiệm khoảng 7.700 tỷ đồng mỗi năm. Việc chuẩn hóa 132,7 triệu thuê bao và triển khai cổng ký số VNeID cũng giúp tiết kiệm từ 2.000 - 10.000 tỷ đồng mỗi năm.
Đặc biệt, trong bối cảnh năm 2024 vẫn ghi nhận hơn 659.000 vụ tấn công mạng và khoảng 14,5 triệu tài khoản bị rò rỉ thông tin, việc triển khai xác thực sinh trắc học bắt buộc thông qua VNeID đã góp phần ngăn chặn cơ bản các hành vi chiếm đoạt tài sản qua chuyển khoản, khẳng định hiệu quả của mô hình định danh điện tử tập trung.
Từ những kết quả đạt được, Ban soạn thảo nhận định việc mở rộng định danh và xác thực điện tử sang các đối tượng khác như tài sản, phương tiện, thiết bị, địa điểm và không gian sẽ góp phần giảm gian lận, thất thoát, tối ưu chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả quản lý, tăng tính minh bạch và rút ngắn thời gian giao dịch, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ công và dịch vụ số trong kỷ nguyên số.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã tập trung góp ý sâu vào ba nhóm tác động lớn của dự án Luật. Cụ thể là tác động đối với hệ thống pháp luật hiện hành, bảo đảm các quy định của Luật phải tương thích, hỗ trợ và thúc đẩy các luật khác cùng phát triển, tuyệt đối không tạo ra sự chồng chéo, bó hẹp hay cản trở việc thực thi pháp luật. Cùng với đó là tác động đối với hạ tầng công nghệ, đánh giá đầy đủ những thay đổi đối với cấu trúc hạ tầng số quốc gia trên nền tảng các cơ sở dữ liệu hiện có. Cuối cùng là tác động đối với hợp tác quốc tế, nhất là vấn đề dữ liệu xuyên biên giới và việc thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.