Đề xuất bố trí ngân sách 0,1% GDP hàng năm cho công tác nhân tài

Đề xuất bố trí ngân sách 0,1% GDP hàng năm cho công tác nhân tài
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp.

Sáng 26/10, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Chủ tịch Hội đồng thẩm định Hồ sơ dự án Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc biệt về công tác nhân tài - chủ trì cuộc họp Hội đồng. Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trương Hải Long dự họp.

4 nguyên tắc cốt lõi

Thông tin tại cuộc họp, ông Nguyễn Quang Dũng - Vụ trưởng Vụ Công chức - Viên chức, Bộ Nội vụ cho biết, thể chế hóa Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững (Kết luận số 105), dự thảo Nghị quyết xây dựng cơ chế đặc biệt để phát hiện, tiến cử, lựa chọn, thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân tài thực hiện nhiệm vụ chiến lược, chương trình, dự án trọng điểm và giải quyết bài toán lớn của đất nước, ngành, lĩnh vực, địa phương.

Cơ chế được áp dụng cho nhân tài là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài; mở rộng sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Dự thảo gồm 16 Điều, với một số nội dung cơ bản. Theo đó, dự thảo Nghị quyết xác định 4 nguyên tắc cốt lõi bao gồm lấy nhiệm vụ chiến lược, bài toán lớn làm căn cứ phát hiện, tuyển chọn, giao nhiệm vụ và đánh giá nhân tài; tuyển chọn dựa trên năng lực tạo ra sản phẩm, kết quả thực tế, không bắt buộc phải có học hàm, học vị, chức danh, thâm niên hoặc danh hiệu nhân tài (trừ điều kiện hành nghề bắt buộc theo luật định); chủ động phát hiện, tiến cử từ mọi nguồn trong và ngoài nước, không phân biệt công - tư và không tính vào chỉ tiêu biên chế đối với khu vực công; bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, tự chủ chiến lược, quốc phòng, an ninh, bí mật nhà nước, dữ liệu và sở hữu trí tuệ.

Chuẩn hóa Khung tiêu chí quốc gia về nhân tài và phân cấp xác định nhiệm vụ chiến lược, dự thảo Nghị quyết quy định Khung tiêu chí quốc gia về nhân tài và thiết lập khung 4 nhóm tiêu chí mở gồm có công trình, sản phẩm, thành tựu nổi bật được ghi nhận trong nước hoặc quốc tế; có năng lực đặc biệt trong nghiên cứu, phát triển KHCN, quản lý, quản trị hoặc giải quyết vấn đề phức tạp; có khả năng chủ trì, dẫn dắt nhiệm vụ chiến lược; hoặc có tố chất, tiềm năng phát triển nổi trội được chứng minh qua phương án thực hiện nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, dự thảo Nghị quyết xác định các lĩnh vực mũi nhọn (khoa học cơ bản, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, khoa học dữ liệu, công nghệ chiến lược, công nghệ mới, quản trị quốc gia, quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội) và phân cấp trực tiếp cho Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan trung ương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định, ban hành và công bố công khai danh mục nhiệm vụ chiến lược kèm nhu cầu nhân tài.

Về cơ chế chủ động phát hiện, tiến cử và lựa chọn đặc thù ngoài Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, dự thảo Nghị quyết cho phép cơ quan, tổ chức chủ động tìm kiếm, mời, kết nối nhân tài trong và ngoài nước; tiếp nhận đề cử, tiến cử từ doanh nghiệp, viện, trường, tổ chức khoa học, công nghệ (KHCN), tổ chức xã hội và cá nhân; phát hiện qua kết quả, thành tựu nghiên cứu, sáng tạo gắn với trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin tiến cử.

Dự thảo Nghị quyết quy định người có thẩm quyền quyết định hoặc phân cấp, ủy quyền lựa chọn nhân tài theo 3 hình thức (cạnh tranh, mời trực tiếp hoặc đặt hàng, giao nhiệm vụ) và không phải áp dụng quy định của pháp luật về đấu thầu, đầu tư. Việc giao nhiệm vụ thực hiện qua quyết định hành chính hoặc hợp đồng trọn gói (xác định rõ mục tiêu, sản phẩm, quyền tự chủ, tiền lương, tiền thưởng, chế độ đãi ngộ, quyền và trách nhiệm).

Trao quyền tự chủ thực chất cho nhân tài và cơ chế liên thông đối với cán bộ, công chức, viên chức, dự thảo Nghị quyết quy định nhân tài được hưởng tiền lương, tiền thưởng, đãi ngộ theo quyết định hoặc hợp đồng; được đồng thời thực hiện nhiệm vụ tại nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; được tự quyết định giải pháp chuyên môn; được trực tiếp lựa chọn cộng sự, ký hợp đồng và quyết định mức tiền lương, tiền thưởng của cộng sự trong phạm vi kinh phí được giao; được tự điều chỉnh kinh phí giữa các nội dung chi; ưu tiên tiếp cận hạ tầng nghiên cứu, dữ liệu; và được bảo lưu ý kiến chuyên môn, báo cáo trực tiếp người có thẩm quyền giao nhiệm vụ.

Về cơ chế tài chính khoán chi theo sản phẩm kết quả và phân chia lợi ích thương mại hóa, dự thảo Nghị quyết quy định ngân sách nhà nước giao theo sản phẩm kết quả và bố trí theo tiến độ. Khi khoán chi đến sản phẩm kết quả cuối cùng, thanh toán và quyết toán căn cứ kết quả nghiệm thu và hợp đồng, không yêu cầu chứng từ chi tiết từng khoản chi; khi khoán chi từng phần, nhân tài chủ trì được quyết định mức chi theo thực tế, không phụ thuộc định mức chi hành chính thông thường. Kinh phí tiết kiệm hợp pháp được dùng để thưởng cho nhân tài, nhóm thực hiện và tái đầu tư theo thỏa thuận.

Áp dụng cơ chế phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa kết quả nhiệm vụ chiến lược như đối với kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo (bảo đảm mức hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận theo Luật KHCN và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15); trao quyền chủ động lựa chọn hình thức thương mại hóa cho tổ chức được giao quản lý kết quả.

Về ưu đãi đặc biệt về thuế, thị thực, cư trú, giấy phép lao động và khuyến khích doanh nghiệp, dự thảo Nghị quyết quy định nhân tài được hưởng các chế độ, chính sách đặc biệt gồm được miễn thuế thu nhập cá nhân trong thời hạn 5 năm kể từ khi phát sinh thu nhập đối với thu nhập từ tiền lương, tiền thưởng của cả nhân tài và cộng sự; được cấp Thị thực Nhân tài Việt Nam, cư trú và miễn giấy phép lao động.

Doanh nghiệp sử dụng nhân tài và cộng sự thực hiện nhiệm vụ chiến lược được tính thêm vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp một khoản bằng 100% chi phí tiền lương, tiền thưởng thực trả cho nhân tài và cộng sự (tức được khấu trừ tổng cộng 200% chi phí tiền lương, tiền thưởng thực trả). Nhân tài làm việc tại doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ chiến lược không sử dụng ngân sách nhà nước vẫn được hưởng đầy đủ ưu đãi miễn thuế thu nhập cá nhân, Thị thực Nhân tài Việt Nam, cư trú và miễn giấy phép lao động.

Đặc biệt, theo dự thảo Nghị quyết, nhân tài được xem xét miễn, loại trừ trách nhiệm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cả nhân tài, người tham gia thực hiện nhiệm vụ chiến lược và người tham mưu, thẩm định, quyết định lựa chọn, sử dụng nhân tài khi tuân thủ quy trình, không vụ lợi trước rủi ro khách quan, đồng thời bảo vệ cả đội ngũ tham gia xây dựng, ban hành chính sách.

Nhà nước bố trí ngân sách nhà nước cho công tác nhân tài đạt khoảng 0,1% GDP hằng năm trong tổng nguồn lực dành cho KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Quốc hội giao ngân sách hằng năm, Chính phủ giao cho các Bộ, ngành, địa phương; HĐND các tỉnh, TP tự chủ ngân sách được quyết định mức chi cao hơn.

Quy định cụ thể hơn tiêu chí cơ bản để xác định nhân tài

Phát biểu tại cuộc họp, các ý kiến thành viên Hội đồng thẩm định cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa các chủ trương mới của Đảng về thu hút, trọng dụng nhân tài; nhấn mạnh việc Quốc hội ban hành một văn bản quy định cơ chế, chính sách đặc biệt về công tác nhân tài là bước thể chế hóa kịp thời chủ trương coi nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt và đầu tư cho nhân tài là đầu tư dài hạn.

Đánh giá Hồ sơ dự thảo Nghị quyết được xây dựng công phu, bám sát Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kết luận số 105; các ý kiến cho rằng, về tổng thể, nội dung dự thảo phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và cơ bản thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành; thể hiện cách tiếp cận đổi mới, lấy nhiệm vụ chiến lược, năng lực và sản phẩm, kết quả đóng góp làm căn cứ lựa chọn, sử dụng nhân tài; mở rộng nguồn nhân tài từ trong nước, ngoài nước, khu vực công và khu vực tư; đồng thời thiết kế các cơ chế đặc biệt về giao nhiệm vụ, đãi ngộ và sử dụng nguồn lực.

Một số ý kiến đề nghị nghiên cứu quy định cụ thể hơn ngay tại Nghị quyết các tiêu chí cơ bản để xác định nhân tài, nhất là yêu cầu về năng lực, thành tích, sản phẩm, kết quả đóng góp và phương thức chứng minh, đánh giá; bổ sung tiêu chí, nguyên tắc xác định nhiệm vụ chiến lược thuộc phạm vi quản lý của địa phương; làm rõ trình tự đề xuất, thẩm định, lựa chọn nhân tài và cơ chế đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, trong đó xác định cụ thể mục tiêu, chỉ tiêu, kết quả đầu ra, mức độ hoàn thành nhiệm vụ trước và sau khi áp dụng cơ chế đặc biệt để làm cơ sở đánh giá hiệu quả, trách nhiệm và kết quả đóng góp của nhân tài.

Theo đại diện Bộ Ngoại giao, công tác nhân tài là một nhiệm vụ quan trọng, chiến lược, mang tính đột phá. Vì vậy, việc xác định, lựa chọn, sử dụng nhân tài cần bảo đảm được tổ chức thực hiện thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ nhằm phát huy thực chất, hiệu quả thu hút, sử dụng nhân tài.

Trên tinh thần đó, ghi nhận các nội dung đổi mới trong dự thảo Nghị quyết, đại diện Bộ Ngoại giao chỉ ra rằng, dự thảo đưa ra quy định về phát hiện, tiến cử, lựa chọn và giao nhiệm vụ cho nhân tài nhưng chưa có cơ chế về đánh giá để làm cơ sở cho việc tiếp tục giao nhiệm vụ hay kết thúc nhiệm vụ; có quy định về quyền của nhân tài trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược nhưng chưa có trách nhiệm đi đôi với quyền. Do đó, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát để bổ sung nội dung này vào dự thảo Nghị quyết.

Đại diện Bộ Ngoại giao cũng đề nghị nghiên cứu bổ sung một điều riêng hoặc quy định tương ứng về đẩy mạnh hợp tác quốc tế, phát triển mạng lưới nhân tài xuyên quốc gia và huy động trí thức kiều bào, chuyên gia, nhà khoa học quốc tế tham gia giải quyết các nhiệm vụ chiến lược nhằm cụ thể hóa mục 6 phần III Kết luận số 105. Bởi, trên thực tế, mỗi Bộ, ngành, địa phương sẽ đều có nhu cầu hợp tác quốc tế về nội dung này để xác định, tìm kiếm nhân tài phù hợp với mục tiêu, thế mạnh, đặc điểm tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của Bộ, ngành, địa phương mình với mục tiêu kết nối đúng chuyên gia với đúng nhiệm vụ.

Đại diện Ngân hàng Nhà nước đề nghị nghiên cứu điều chỉnh tên Điều 14 từ “Ngân sách thực hiện cơ chế, chính sách đặc biệt cho công tác nhân tài” thành “Nguồn lực thực hiện cơ chế, chính sách đặc biệt cho công tác nhân tài”. Đồng thời, bổ sung quy định về xã hội hóa, đa dạng hóa nguồn lực, hợp tác công tư và cơ chế thành lập Quỹ phát triển nhân tài tại Bộ, ngành, địa phương để bảo đảm thể chế hóa đầy đủ Kết luận số 105, tạo căn cứ pháp lý rõ ràng cho cơ chế huy động nguồn lực ngoài ngân sách.

“Nhu cầu chuyên gia thường phát sinh theo nhiệm vụ và theo thời điểm, trong khi cơ chế dự toán và sử dụng kinh phí thường xuyên có trình tự và phạm vi chi riêng. Một cơ chế quỹ chuyên biệt sẽ giúp Bộ, ngành chủ động hơn trong việc kết nối, đặt hàng chuyên gia và duy trì mạng lưới nhân tài theo nhu cầu cụ thể”, đại diện Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh.

Phát biểu tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trương Hải Long nhấn mạnh 2 vấn đề mới tại Kết luận số 105, bao gồm thống nhất nhận thức về việc quản lý nhân tài theo “vòng đời”, đầy đủ từ khâu phát hiện, thu hút, bồi dưỡng đến phát triển nhân tài; đồng thời xác định rõ mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia gắn với từng nhiệm vụ, chương trình, dự án cụ thể trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, khoa học dữ liệu, công nghệ chiến lược, công nghệ mới và các nhiệm vụ chiến lược khác.

Quan điểm của Cơ quan chủ trì soạn thảo là đây không phải là Nghị quyết chung để hướng dẫn tất cả các nội dung liên quan đến tuyển dụng, sử dụng nhân tài mà tập trung vào một số cơ chế, chính sách hiện đang vướng mắc ở các luật và các văn bản khác; đồng thời khống chế ở phạm vi lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể và quy định rõ về nguồn lực để đảm bảo mục tiêu thu hút 1.000 chuyên gia ở trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn.

Kết luận nội dung cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh, thu hút, trọng dụng nhân tài là vấn đề lớn, đã được quy định tại nhiều văn bản nhưng về mặt thể chế, chưa có văn bản tầm luật để điều chỉnh. Do đó, việc ban hành Nghị quyết là rất cần thiết, cả về cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn.

Theo Thứ trưởng, Nghị quyết về nội dung này phải nêu được toàn diện về chủ thể, đối tượng; về lựa chọn, sử dụng, đánh giá, tôn vinh nhân tài với các cơ chế, chính sách đặc biệt, vượt trội. Trên tinh thần đó, Thứ trưởng đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu các ý kiến của thành viên Hội đồng thẩm định để tiếp tục hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị quyết đảm bảo yêu cầu về tiến độ, chất lượng.

Rà soát để đảm bảo thể chế hóa đúng, đầy đủ Kết luận số 105; áp dụng quan điểm đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, xác định cụ thể những nội dung cần quy định tại Nghị quyết và những nội dung giao cho Chính phủ. Đồng thời, tiếp tục rà soát nội dung dự thảo Nghị quyết để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Thứ trưởng cũng lưu ý về vấn đề tổ chức thực thi, quy định đồng bộ về cơ chế, chính sách và trách nhiệm, thẩm quyền trong tổ chức thực hiện để đảm bảo tính khả thi.

Tường Minh