Để thanh toán xuyên biên giới thúc đẩy phát triển du lịch

Để thanh toán xuyên biên giới thúc đẩy phát triển du lịch
Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng phát biểu tại Hội thảo. (Ảnh: BTC)

Thanh toán xuyên biên giới (XBG) đang có những bước phát triển mạnh mẽ. Để phương thức này thuận tiện hơn, qua đó thúc đẩy chi tiêu và thu hút thêm khách quốc tế đến Việt Nam, việc mở rộng kết nối cần xuất phát từ nhu cầu kinh tế thực.

Tốc độ thanh toán xuyên biên giới tăng mạnh

Theo số liệu từ NAPAS, thanh toán XBG qua mã QR đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao tại các thị trường đã kết nối. Trong 8 tháng năm 2026, số lượng giao dịch của du khách từ Thái Lan, Lào và Campuchia tại Việt Nam tăng 8 lần trong khi giá trị giao dịch tăng 6 lần so với cùng kỳ năm 2025. Riêng khách du lịch Trung Quốc, trong tháng 8/2026, ghi nhận tốc độ tăng trưởng tích cực. Theo đó, tháng 8/2026, giao dịch của du khách Trung Quốc sử dụng ứng dụng thanh toán của Trung Quốc để quét mã VietQRGlobal tại Việt Nam tăng tương ứng gấp 3 lần về số lượng và gấp 4 lần về giá trị giao dịch so với tháng 4/2026.

Tại Hội thảo “Thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR: Động lực mới cho bán lẻ và du lịch” (tổ chức ngày 25/9/2026), ông Phạm Tiến Dũng - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho rằng, thanh toán XBG không chỉ là câu chuyện về một công nghệ hay một mã QR. Điều quan trọng hơn là làm thế nào để những kết nối thanh toán đó tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế. Do đó, phát triển thanh toán XBG qua mã QR cần được nhìn nhận rộng hơn, từ kết nối hạ tầng thanh toán đến kết nối người dân, DN; từ kết nối hệ thống đến hỗ trợ dòng chảy của du lịch, bán lẻ, thương mại và dịch vụ.

Ông Phạm Văn Thủy - Phó Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, thị trường châu Á đang phục hồi và mở rộng. Châu Á hiện đang chiếm 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Doanh số chi tiêu qua quét mã QR XBG đã tăng rõ rệt sau khi kết nối song phương đi vào hoạt động.

Cần xây dựng một “bản đồ thanh toán du lịch”

Để thanh toán QR XBG thuận tiện hơn cho du khách, qua đó thúc đẩy chi tiêu của du khách cũng như thu hút nhiều hơn du khách quốc tế đến Việt Nam, ông Phạm Tiến Dũng cho rằng, trong giai đoạn tới phải xác định mở rộng kết nối thanh toán XBG cần xuất phát từ nhu cầu kinh tế thực, gắn với dòng chảy du lịch, thương mại, đầu tư và nhu cầu thanh toán giữa Việt Nam với từng quốc gia, vùng lãnh thổ.  Đồng thời chuyển trọng tâm từ “kết nối được” sang “sử dụng được và sử dụng hiệu quả”. “Thành công không nên chỉ được nhìn qua số lượng thị trường đã kết nối, mà cần được đánh giá bằng mức độ sử dụng thực tế, độ phủ đơn vị chấp nhận thanh toán, chất lượng dịch vụ, chi phí, sự thuận tiện và giá trị mà kết nối đó mang lại cho người dân và DN” - ông Dũng nói.

Bên cạnh đó, cần thúc đẩy khả năng tương tác, chuẩn hóa và phối hợp chặt chẽ giữa các bên tham gia; bảo đảm an toàn cho mọi giao dịch bởi công nghệ có thể thay đổi rất nhanh, nhưng nguyên tắc bảo vệ người sử dụng, phân định rõ trách nhiệm, kiểm soát rủi ro và duy trì khả năng chống chịu của hệ thống phải luôn được đặt ở vị trí trung tâm.

Theo ông Phạm Văn Thủy, để thanh toán XBG là động lực của du lịch cần xây dựng một “bản đồ thanh toán du lịch” theo từng thị trường và từng điểm đến. Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, NHNN và các địa phương cần phối hợp để xác định rõ các điểm chấp nhận thanh toán quốc tế tại sân bay, cửa khẩu, khách sạn, trung tâm mua sắm, chợ, điểm tham quan, khu vui chơi, chợ đêm… Thông tin tại các điểm này cần được hiển thị rõ ràng về ngôn ngữ, phương thức thanh toán, mức phí tham chiếu, kênh hỗ trợ và những thông tin cần thiết để du khách dễ tiếp cận.

Đồng thời phổ cập thanh toán số tới các hộ kinh doanh và các đơn vị chấp nhận thanh toán, nhất là ở những điểm đến du lịch và các khu vực có nhiều DN nhỏ và vừa như các làng nghề, điểm kinh doanh du lịch và các hộ kinh doanh tại địa phương. “Đây là một mắt xích rất quan trọng, quyết định độ phủ của thanh toán số. Vì vậy, cần xây dựng bộ công cụ đăng ký đơn giản, dễ sử dụng, kèm theo hướng dẫn bằng nhiều ngôn ngữ; đồng thời có hệ thống hóa đơn, đối soát dễ hiểu, cơ chế hỗ trợ và truyền thông phù hợp” - ông Thủy lưu ý.

Đáng chú ý, ông Thủy gợi ý, cần gắn thanh toán với các chương trình kích thích mua sắm theo hành trình của du khách; thí điểm các mô hình điểm đến thanh toán số toàn diện, gắn với phát triển kinh tế tại một số địa phương, đô thị và trung tâm du lịch. Có thể lựa chọn một số điểm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và các trung tâm dịch vụ du lịch phù hợp để thí điểm.

Hoàng Tú