Để carbon xanh dương trở thành nguồn lực phát triển bền vững

Để carbon xanh dương trở thành nguồn lực phát triển bền vững
Rừng ngập mặn không chỉ là “lá chắn xanh” bảo vệ bờ biển trước tác động của thiên tai, mà còn là hệ sinh thái có khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon, bảo tồn đa dạng sinh học và tạo sinh kế cho cộng đồng ven biển. (Nguồn: Cục Biển và Hải đảo Việt Nam)

(PLVN) - Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam họp Nhóm công tác triển khai Chương trình Đối tác Hành động carbon xanh dương (NBCAP) Việt Nam lần thứ hai. Một trong những nội dung trọng tâm là thảo luận Dự thảo Lộ trình hành động quốc gia về carbon xanh dương giai đoạn 2026 – 2030. Điểm đáng chú ý là Lộ trình không chỉ hướng tới gia tăng khả năng hấp thụ carbon, mà còn bao trùm cả bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu và sinh kế cộng đồng ven biển, đồng thời lồng ghép bình đẳng giới, hòa nhập người khuyết tật…

Carbon xanh dương là lượng carbon được hấp thụ và lưu trữ trong các hệ sinh thái biển, ven biển như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và đầm lầy ngập triều. Giá trị của những hệ sinh thái này không dừng ở khả năng lưu giữ carbon mà còn thể hiện ở khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu, bảo vệ cộng đồng trước bão, ngập lụt, tạo sinh kế, hỗ trợ thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học.

Từ bảo tồn hệ sinh thái đến mục tiêu khí hậu quốc gia

Dự thảo đặt ra tầm nhìn đến năm 2030, các hệ sinh thái carbon xanh dương của Việt Nam được quản lý thống nhất trên nền tảng pháp lý và dữ liệu đầy đủ, được ghi nhận trong kiểm kê khí nhà kính quốc gia và Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), đồng thời trở thành nguồn lực tài chính bền vững, mang lại lợi ích công bằng cho cộng đồng ven biển; định hướng đến năm 2050 đóng góp vào mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.

Khung Lộ trình xác lập ba mục tiêu chiến lược: phục hồi và tối ưu hóa năng lực hấp thụ carbon của hệ sinh thái biển, ven biển; tích hợp carbon xanh dương vào NDC và mục tiêu khí hậu quốc gia; bảo vệ đa dạng sinh học gắn với thích ứng biến đổi khí hậu và sinh kế cộng đồng. Để hiện thực hóa ba mục tiêu này, Dự thảo xây dựng sáu lĩnh vực chiến lược, từ chính sách, thể chế; bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái; tài chính, đầu tư đến khoa học, dữ liệu và MRV, khu vực tư nhân, sinh kế, năng lực và truyền thông. Toàn bộ khung dự thảo gồm 25 kết quả và 78 hành động, nhiệm vụ.

Đáng chú ý, Lộ trình không áp dụng một cách tiếp cận giống nhau cho cả ba hệ sinh thái. Đơn cử, công tác liên quan đến quản lý rừng ngập mặn đã có hệ thống dữ liệu, chủ thể quản lý tương đối rõ và các phương thức sinh kế đang vận hành. Trong khi đó, thảm cỏ biển và đầm lầy ngập triều chưa được định danh pháp lý độc lập ở cấp luật, chưa có phương pháp đo đạc, kiểm kê được công nhận và chưa có nguồn ngân sách riêng. Vì vậy, hai hệ sinh thái này được xác định cần một giai đoạn chuẩn bị để nâng mức độ sẵn sàng trước khi thu hút đầu tư.

Các chỉ tiêu cũng được cụ thể hóa theo từng hệ sinh thái. Với rừng ngập mặn, dự thảo dẫn các mục tiêu trồng mới 9.800ha, trồng bổ sung phục hồi và làm giàu 6.800ha trong giai đoạn 2021 - 2030. Đối với thảm cỏ biển, báo cáo cập nhật diện tích và độ phủ dự kiến được công bố năm 2028; với đầm lầy ngập triều, mục tiêu trước mắt là có định nghĩa chính thức, đo đạc và công bố diện tích vào năm 2028.  Riêng mục tiêu đưa carbon xanh dương vào NDC hiện chưa đặt chỉ tiêu định lượng. Dự thảo xác định ba việc cần tiếp tục thực hiện là công bố hệ số phát thải quốc gia và hoàn thiện phạm vi hạch toán; báo cáo lượng hấp thụ khí nhà kính từ vùng đất ngập nước ven biển trong kiểm kê khí nhà kính quốc gia; tiến tới đưa thành phần carbon xanh dương với số liệu định lượng cụ thể vào NDC.

TS. Vũ Đức Đam Quang, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh: “Cuộc họp Nhóm công tác lần thứ hai đánh dấu bước chuyển của NBCAP từ xây dựng nền tảng sang giai đoạn triển khai có trọng tâm. Dự thảo Lộ trình hành động quốc gia sẽ giúp xác định các ưu tiên và tạo cơ sở để chuyển những ưu tiên đó thành các chương trình, dự án cụ thể, đồng thời kết nối các dự án với nguồn lực và các đối tác phù hợp, trên cơ sở các ưu tiên phát triển do Việt Nam xác định.”

Lồng ghép bình đẳng giới, hòa nhập người khuyết tật và bao trùm xã hội

Một điểm đáng chú ý của Dự thảo là cách tiếp cận tương đối thận trọng đối với tài chính carbon. Lộ trình xác định thứ tự hành động phải căn cứ vào mức độ sẵn sàng của dữ liệu và hạ tầng pháp lý, “không căn cứ vào mức độ hấp dẫn của các công cụ tài chính”.

Bà Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam, chia sẻ: “Lộ trình hành động cần trở thành khung định hướng quốc gia, bảo đảm các nguồn đầu tư và hỗ trợ kỹ thuật gắn kết với những ưu tiên do Việt Nam xác định. UNDP cam kết tiếp tục đồng hành cùng Bộ NN&MT và các đối tác, chuyển hóa tiềm năng của carbon xanh dương thành những hành động có sự phối hợp, dựa trên bằng chứng và có khả năng thu hút đầu tư.”

Một điểm đáng chú ý khác là yêu cầu lồng ghép bình đẳng giới, hòa nhập người khuyết tật và bao trùm xã hội (GEDSI) xuyên suốt Lộ trình. Đơn cử, Dự thảo đề ra giải pháp: Phát huy hiệu quả mạng lưới của Hội Liên hiệp Phụ nữ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tại cơ sở trong việc tuyên truyền, lồng ghép các mục tiêu GEDSI, bảo đảm tỷ lệ tham gia tối thiểu 30% đối với phụ nữ, người khuyết tật, hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số ven biển trong các ban quản lý dự án, chương trình đào tạo, bồi dưỡng và hội thảo tham vấn chính sách.

Đỗ Trang