ĐD Ngô Quang Hải: Làm phim ở Việt Nam dễ khiến người ta ảo tưởng
Ngô Quang Hải cho rằng làm phim ở Việt Nam là sướng nhất, và dễ khiến người ta ảo tưởng nhất.
Ngô Quang Hải cho rằng làm phim ở Việt Nam là sướng nhất, và dễ khiến người ta ảo tưởng nhất.
Tính đến thời điểm này Ngô Quang Hải vẫn chỉ có duy nhất một tác phẩm là “Chuyện của Pao”. Và sau bao nhiêu năm kể từ bộ phim đó, vị đạo diễn này vẫn miệt mài một cách lặng lẽ để tìm đến những “Mạnh Thường Quân” cho những kế hoạch tiếp theo. Không ngại nói và cũng chẳng ngại bị chê là “nói nhiều”, Ngô Quang Hải xem ra vẫn còn nhiều tâm huyết với điện ảnh lắm.
- Theo anh, điện ảnh Việt Nam đang ở vị trí như thế nào nếu chúng ta chỉ so sánh ngay với các nước láng giềng?
Nói về chuyện đó thì bạn phải dành cho tôi một ngày chứ không phải chỉ cuộc phỏng vấn ngắn như thế này. Quan điểm của riêng tôi thôi nhé, sự phát triển của điện ảnh vẫn còn có những sự ngộ nhận. Nhìn lại thì sẽ thấy chúng ta thiếu sự đồng bộ và thiếu những chiến lược dài hơi. Vậy thì một chiếc máy bay muốn cất cánh an toàn cần phải có dường băng rộng, thoáng đãng, không cản tầm nhìn và nếu so sánh điện ảnh Việt như chiếc máy bay đó thì chúng ta đã có những điều cần và đủ chưa?
- Là một người tham gia nhiều LHP vị trí diễn viên cho tới đạo diễn, nói một cách công tâm, theo anh, Việt nam đã có tên trên bản đồ điện ảnh thế giới một cách “có số có má” chưa?
Sự thật là chưa. Nói thế này cho dễ hiểu nhé, bạn mới chuyển về một khu chung cư và muốn ai cũng biết mặt mình thì bạn phải thường xuyên ghé thăm nhà họ chứ không phải đóng cửa ở nhà đọc sách và năm thì mười họa mới gật đầu mỉm cười ở hành lang. Đó cũng là thực tế của điện ảnh Việt tại các LHP đó. Các bộ phim của chúng ta góp mặt quá thưa thớt tại các LHP và luôn góp mặt ở tình trạng lần sau mới hơn lần trước và làm quen lại với nhau từ đầu.
Nhìn sang Hàn Quốc nhé, họ có cả một chiến lược dài hơi về chuyện đào tạo và chuyện “cắt cử” con người tham dự LHP. Có những đạo diễn chỉ chuyên “đánh” một LHP nhất định, lại có những đạo diễn chuyên trị dòng phim bom tấn. Chừng nào chúng ta có một chiến lược như thế thì chuyện “số má” hãy đề cập lại.
- Thực tế là hiện nay, sau một vài thành tích dừng ở mức “khuyến khích” tại các LHP lớn rồi truyền thông vào cuộc, cùng với sự “bắt tay” của chính những người trong cuộc để bắt đầu có những câu chuyện phân cấp “chiếu trên – chiếu dưới” trong điện ảnh. Anh nghĩ sao về điều đó?
Quá thiển cận. Hãy đếm số lượng phim mỗi năm chúng ta làm ra có quá một bàn tay không mà bàn tính chuyện “chiếu trên - chiếu dưới”. Số lượng phim làm ra quá ít (chưa nói tới chuyện chất lượng) thì chuyện cọ xát cũng ít nốt, vậy thì căn cứ vào đâu để nói chuyện “chiếu trên – chiếu dưới”. Một vài bằng khen mang tính chất khuyến khích, động viên không đủ để “chấn hưng” một nền điện ảnh bởi LHP chỉ là khâu cuối cùng của một thành phẩm.
Mà để khâu cuối cùng đó hoàn chỉnh và tốt đẹp thì những khâu trước cũng phải có một chất lượng tương đương. Nhìn lại quá khứ, chúng ta đã có một nền điện ảnh cách mạng phục vụ một cách đắc lực cho công cuộc giải phóng dân tộc. Nhưng khi chiến tranh qua đi chúng ta phải tự “lột xác“ chứ?. Thời hòa bình cần những bộ phim mang hơi hướng cuộc sống hiện tại hơn là những hoài niệm về một thời đã qua rất xa.
- Cái anh nói có nên gọi là sự “ảo tưởng tự thân” của nhưỡng người làm công tác điện ảnh khi cứ chìm đắm và nhìn ngắm, vuốt ve những vinh quang (nếu có) trong quá khứ?
Tôi gọi đó là sự “quá độ” trong điện ảnh. Làm nghệ thuật cũng không khác nào nấu cỗ mà mỗi công đoạn cũng cần phải có nghệ thuật từ khâu chế biến cho tới mời thực khách. Bạn có thể nấu cỗ ngon nhưng nếu không biết cách để “mời” thì việc người ta có thưởng thức và gật gù khen ngon hay không lại là chuyện khác nữa.
Thành ra tôi mới nói rằng tôi rất khâm phục các nhà làm phim cũng như các hãng phim tư nhân đang nỗ lực đưa những tác phẩm của mình ra nước ngoài một cách đầy cống hiến như thế. Điều đó không đơn thuần muốn là được mà phải có cả sự chấp nhận thua thiệt.
- Anh nói thế tức là ghen tị với những dự án phim bao cấp, của nhà nước?
- Tôi nhớ tôi đã phát biểu rằng chẳng đâu làm phim sướng như Việt Nam, khi đạo diễn được giao cho một cục tiền làm phim xong chiếu một hai lần rồi cất vào kho, và đương nhiên không còn chịu trách nhiệm về việc công chúng đón nhận như thế nào. Điều đáng nói hơn là cứ thế vỗ ngực nói phân biệt phim nghệ thuật và phim thương mại, điều mà thế giới đi qua rất lâu và giờ chỉ còn tồn tại chuyện phim hay và phim dở mà thôi.
Đừng nói rằng chúng tôi đi xin tài trợ thì dễ dàng hơn trong việc thích thì làm, đó chỉ là những nhận định của những người không biết. Tôi tin rằng chẳng ai dại dột đến mức độ ném một đồng tiền cho một đạo diễn lạ hoắc để làm một bộ phim mà không đòi hỏi quyền lợi. Đó là chuyện hoang tưởng.
- Những nỗ lực tự thân của anh hay của những đồng nghiệp trong việc độc lập phát triển như vậy có lúc nào anh nản, thấy rằng mình “xe cát biển Đông” khi tính trung bình khoảng 4-5 năm mới có 1 phim?
Chính vì thế mới đòi hỏi sự đồng bộ trong mọi khâu. Điện ảnh Việt đâu chỉ cần những câu chuyện đồng tính, gái trai mà còn cần cả những cái khác nữa. Nếu cứ tự vận động mãi rồi cũng sẽ đến lúc thấy nản, chắc chắn là thế. Chúng tôi cần những sự hỗ trợ mạnh mẽ và hệ thống hơn.
- Anh có để ý là bao nhiêu năm qua đi rồi chúng ta vẫn nhắc về những mốc son như Trần Anh Hùng với “Xích lô”, “Mùi đu đủ xanh”, có thêm chăng nữa là một vài hiện tượng gần đây. Điều đó có làm cho anh phải suy nghĩ?
Có chứ, rằng điện ảnh chúng ta nghèo nàn quá khi bao nhiêu năm qua đi mà bạn chỉ có kiểm kê được có bấy nhiêu bộ phim. Điều đó còn làm cho bạn – một người ngoài nghề - phải suy tính thì tôi không tin rằng những người trong nghề - như chúng tôi – có thể thờ ơ được. Nhưng nói và làm lại là những đề tài khác nhau và đôi khi muốn làm đâu có làm ngay được.
- Nhưng một bộ phim có thể được tôn trọng ở nước ngoài, còn ở trong nước có khi bị khán giả ghẻ lạnh, thì có thể gọi là thành công?
- Sẽ rất khó nếu bộ phim đó chỉ phục vụ một số lượng khán giả nhất định. Nhưng cũng phải nhìn lại là chúng ta đã có một hệ thống bảo hộ những người làm phim như thế hay là mỗi năm qua nhập phim ngày càng nhiều hơn, những động thái về chuyện nâng cao ý thức người xem cũng như những kế hoạch tiếp cận người xem ngày càng gần hơn vẫn luôn là những thứ tự phát mà không hề có một kế hoạch, chiến lược mang tính dài hơi cho cả chục nắm sau. Hoàn toàn không. Thế nên chuyện khán giả ghẻ lạnh vẫn còn phải chấp nhận thôi..
- Anh thử đánh giá xem trong vòng 10 năm nữa thì điện ảnh Việt có “khá khẩm” hơn được không, hay vẫn chỉ là những “bong bóng xà phòng”, như chính những người trong cuộc đang tự thổi hiện nay?
- Tôi đề cao tính làm việc theo ekip và tôi biết vẫn có những con người trẻ tuổi đang âm thầm nuôi dưỡng những kế hoạch, những tình yêu điện ảnh đích thực, họ mới chính là tài năng điện ảnh của nước nhà.
Chính sự âm thầm lặng lẽ đó làm họ được đánh giá cao. Và tôi cũng thấy làm vui mừng vì hiện nay đã có rất nhiều các du học sinh về điện ảnh ở Anh, Mỹ, Canada đang tìm đường về nước làm phim. Họ chứ không ai khác mới mang được “làn gió” mới cho điện ảnh Việt.
- Tức là anh mất hoàn toàn niềm tin vào những tuyên bố lớn lao trên báo của các đạo diễn?
- Tuyên bố cũng được nhưng phải làm một cách triệt để. Tôi thấy chúng ta có một lỗ hổng rất lớn về công tác đào tạo và tư duy về điện ảnh. Nhiều bạn đạo diễn trẻ đã gặp tôi và bày tỏ sự hoang mang.
- Còn anh thì sao, anh vẫn còn chờ đợi những thành công rực rỡ của mình chứ?
- Đúng vậy, và tôi cũng không khác những người làm nghề là mấy khi vẫn mong đợi một bộ phim được dân nghề đánh giá cao. Nhưng có lẽ tôi thực tế hơn, tôi muốn cả công chúng cũng công nhận chứ không phải chỉ là những cái ve vuốt của người làm nghề với nhau.
Công chúng mới là người thẩm định quyết định vị trí của tác phẩm cũng như người làm ra tác phẩm. Đơn giản thôi, họ là khách hàng và họ không ảo tưởng cũng như lạc quan tếu.
- Xin cảm ơn anh đã chia sẻ!
Tính đến thời điểm này Ngô Quang Hải vẫn chỉ có duy nhất một tác phẩm là “Chuyện của Pao”. Và sau bao nhiêu năm kể từ bộ phim đó, vị đạo diễn này vẫn miệt mài một cách lặng lẽ để tìm đến những “Mạnh Thường Quân” cho những kế hoạch tiếp theo. Không ngại nói và cũng chẳng ngại bị chê là “nói nhiều”, Ngô Quang Hải xem ra vẫn còn nhiều tâm huyết với điện ảnh lắm.
![]() |
| Đạo diễn Ngô Quang Hải |
- Theo anh, điện ảnh Việt Nam đang ở vị trí như thế nào nếu chúng ta chỉ so sánh ngay với các nước láng giềng?
Nói về chuyện đó thì bạn phải dành cho tôi một ngày chứ không phải chỉ cuộc phỏng vấn ngắn như thế này. Quan điểm của riêng tôi thôi nhé, sự phát triển của điện ảnh vẫn còn có những sự ngộ nhận. Nhìn lại thì sẽ thấy chúng ta thiếu sự đồng bộ và thiếu những chiến lược dài hơi. Vậy thì một chiếc máy bay muốn cất cánh an toàn cần phải có dường băng rộng, thoáng đãng, không cản tầm nhìn và nếu so sánh điện ảnh Việt như chiếc máy bay đó thì chúng ta đã có những điều cần và đủ chưa?
- Là một người tham gia nhiều LHP vị trí diễn viên cho tới đạo diễn, nói một cách công tâm, theo anh, Việt nam đã có tên trên bản đồ điện ảnh thế giới một cách “có số có má” chưa?
Sự thật là chưa. Nói thế này cho dễ hiểu nhé, bạn mới chuyển về một khu chung cư và muốn ai cũng biết mặt mình thì bạn phải thường xuyên ghé thăm nhà họ chứ không phải đóng cửa ở nhà đọc sách và năm thì mười họa mới gật đầu mỉm cười ở hành lang. Đó cũng là thực tế của điện ảnh Việt tại các LHP đó. Các bộ phim của chúng ta góp mặt quá thưa thớt tại các LHP và luôn góp mặt ở tình trạng lần sau mới hơn lần trước và làm quen lại với nhau từ đầu.
Nhìn sang Hàn Quốc nhé, họ có cả một chiến lược dài hơi về chuyện đào tạo và chuyện “cắt cử” con người tham dự LHP. Có những đạo diễn chỉ chuyên “đánh” một LHP nhất định, lại có những đạo diễn chuyên trị dòng phim bom tấn. Chừng nào chúng ta có một chiến lược như thế thì chuyện “số má” hãy đề cập lại.
- Thực tế là hiện nay, sau một vài thành tích dừng ở mức “khuyến khích” tại các LHP lớn rồi truyền thông vào cuộc, cùng với sự “bắt tay” của chính những người trong cuộc để bắt đầu có những câu chuyện phân cấp “chiếu trên – chiếu dưới” trong điện ảnh. Anh nghĩ sao về điều đó?
Quá thiển cận. Hãy đếm số lượng phim mỗi năm chúng ta làm ra có quá một bàn tay không mà bàn tính chuyện “chiếu trên - chiếu dưới”. Số lượng phim làm ra quá ít (chưa nói tới chuyện chất lượng) thì chuyện cọ xát cũng ít nốt, vậy thì căn cứ vào đâu để nói chuyện “chiếu trên – chiếu dưới”. Một vài bằng khen mang tính chất khuyến khích, động viên không đủ để “chấn hưng” một nền điện ảnh bởi LHP chỉ là khâu cuối cùng của một thành phẩm.
Mà để khâu cuối cùng đó hoàn chỉnh và tốt đẹp thì những khâu trước cũng phải có một chất lượng tương đương. Nhìn lại quá khứ, chúng ta đã có một nền điện ảnh cách mạng phục vụ một cách đắc lực cho công cuộc giải phóng dân tộc. Nhưng khi chiến tranh qua đi chúng ta phải tự “lột xác“ chứ?. Thời hòa bình cần những bộ phim mang hơi hướng cuộc sống hiện tại hơn là những hoài niệm về một thời đã qua rất xa.
- Cái anh nói có nên gọi là sự “ảo tưởng tự thân” của nhưỡng người làm công tác điện ảnh khi cứ chìm đắm và nhìn ngắm, vuốt ve những vinh quang (nếu có) trong quá khứ?
Tôi gọi đó là sự “quá độ” trong điện ảnh. Làm nghệ thuật cũng không khác nào nấu cỗ mà mỗi công đoạn cũng cần phải có nghệ thuật từ khâu chế biến cho tới mời thực khách. Bạn có thể nấu cỗ ngon nhưng nếu không biết cách để “mời” thì việc người ta có thưởng thức và gật gù khen ngon hay không lại là chuyện khác nữa.
Thành ra tôi mới nói rằng tôi rất khâm phục các nhà làm phim cũng như các hãng phim tư nhân đang nỗ lực đưa những tác phẩm của mình ra nước ngoài một cách đầy cống hiến như thế. Điều đó không đơn thuần muốn là được mà phải có cả sự chấp nhận thua thiệt.
- Anh nói thế tức là ghen tị với những dự án phim bao cấp, của nhà nước?
- Tôi nhớ tôi đã phát biểu rằng chẳng đâu làm phim sướng như Việt Nam, khi đạo diễn được giao cho một cục tiền làm phim xong chiếu một hai lần rồi cất vào kho, và đương nhiên không còn chịu trách nhiệm về việc công chúng đón nhận như thế nào. Điều đáng nói hơn là cứ thế vỗ ngực nói phân biệt phim nghệ thuật và phim thương mại, điều mà thế giới đi qua rất lâu và giờ chỉ còn tồn tại chuyện phim hay và phim dở mà thôi.
Đừng nói rằng chúng tôi đi xin tài trợ thì dễ dàng hơn trong việc thích thì làm, đó chỉ là những nhận định của những người không biết. Tôi tin rằng chẳng ai dại dột đến mức độ ném một đồng tiền cho một đạo diễn lạ hoắc để làm một bộ phim mà không đòi hỏi quyền lợi. Đó là chuyện hoang tưởng.
- Những nỗ lực tự thân của anh hay của những đồng nghiệp trong việc độc lập phát triển như vậy có lúc nào anh nản, thấy rằng mình “xe cát biển Đông” khi tính trung bình khoảng 4-5 năm mới có 1 phim?
Chính vì thế mới đòi hỏi sự đồng bộ trong mọi khâu. Điện ảnh Việt đâu chỉ cần những câu chuyện đồng tính, gái trai mà còn cần cả những cái khác nữa. Nếu cứ tự vận động mãi rồi cũng sẽ đến lúc thấy nản, chắc chắn là thế. Chúng tôi cần những sự hỗ trợ mạnh mẽ và hệ thống hơn.
- Anh có để ý là bao nhiêu năm qua đi rồi chúng ta vẫn nhắc về những mốc son như Trần Anh Hùng với “Xích lô”, “Mùi đu đủ xanh”, có thêm chăng nữa là một vài hiện tượng gần đây. Điều đó có làm cho anh phải suy nghĩ?
Có chứ, rằng điện ảnh chúng ta nghèo nàn quá khi bao nhiêu năm qua đi mà bạn chỉ có kiểm kê được có bấy nhiêu bộ phim. Điều đó còn làm cho bạn – một người ngoài nghề - phải suy tính thì tôi không tin rằng những người trong nghề - như chúng tôi – có thể thờ ơ được. Nhưng nói và làm lại là những đề tài khác nhau và đôi khi muốn làm đâu có làm ngay được.
- Nhưng một bộ phim có thể được tôn trọng ở nước ngoài, còn ở trong nước có khi bị khán giả ghẻ lạnh, thì có thể gọi là thành công?
- Sẽ rất khó nếu bộ phim đó chỉ phục vụ một số lượng khán giả nhất định. Nhưng cũng phải nhìn lại là chúng ta đã có một hệ thống bảo hộ những người làm phim như thế hay là mỗi năm qua nhập phim ngày càng nhiều hơn, những động thái về chuyện nâng cao ý thức người xem cũng như những kế hoạch tiếp cận người xem ngày càng gần hơn vẫn luôn là những thứ tự phát mà không hề có một kế hoạch, chiến lược mang tính dài hơi cho cả chục nắm sau. Hoàn toàn không. Thế nên chuyện khán giả ghẻ lạnh vẫn còn phải chấp nhận thôi..
- Anh thử đánh giá xem trong vòng 10 năm nữa thì điện ảnh Việt có “khá khẩm” hơn được không, hay vẫn chỉ là những “bong bóng xà phòng”, như chính những người trong cuộc đang tự thổi hiện nay?
- Tôi đề cao tính làm việc theo ekip và tôi biết vẫn có những con người trẻ tuổi đang âm thầm nuôi dưỡng những kế hoạch, những tình yêu điện ảnh đích thực, họ mới chính là tài năng điện ảnh của nước nhà.
Chính sự âm thầm lặng lẽ đó làm họ được đánh giá cao. Và tôi cũng thấy làm vui mừng vì hiện nay đã có rất nhiều các du học sinh về điện ảnh ở Anh, Mỹ, Canada đang tìm đường về nước làm phim. Họ chứ không ai khác mới mang được “làn gió” mới cho điện ảnh Việt.
- Tức là anh mất hoàn toàn niềm tin vào những tuyên bố lớn lao trên báo của các đạo diễn?
- Tuyên bố cũng được nhưng phải làm một cách triệt để. Tôi thấy chúng ta có một lỗ hổng rất lớn về công tác đào tạo và tư duy về điện ảnh. Nhiều bạn đạo diễn trẻ đã gặp tôi và bày tỏ sự hoang mang.
- Còn anh thì sao, anh vẫn còn chờ đợi những thành công rực rỡ của mình chứ?
- Đúng vậy, và tôi cũng không khác những người làm nghề là mấy khi vẫn mong đợi một bộ phim được dân nghề đánh giá cao. Nhưng có lẽ tôi thực tế hơn, tôi muốn cả công chúng cũng công nhận chứ không phải chỉ là những cái ve vuốt của người làm nghề với nhau.
Công chúng mới là người thẩm định quyết định vị trí của tác phẩm cũng như người làm ra tác phẩm. Đơn giản thôi, họ là khách hàng và họ không ảo tưởng cũng như lạc quan tếu.
- Xin cảm ơn anh đã chia sẻ!
Theo ANTG
