Dạy ngoại ngữ trong trường phổ thông: Mở rộng nhiều ngôn ngữ, nhưng cần lộ trình
Khi tiếng Anh được định vị là ngôn ngữ thứ hai và các ngoại ngữ khu vực như tiếng Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia được đưa vào lộ trình giảng dạy, bức tranh ngoại ngữ học đường đang mở rộng chưa từng có. Thế nhưng, từ lớp học cho thấy điểm số chưa phản ánh đúng năng lực, còn thiếu giáo viên và điều kiện dạy học là rào cản không nhỏ...
Thực trạng từ nhà trường: Điểm số tốt nhưng năng lực chưa vững
Theo Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, kết quả khảo sát tại ba địa phương (Hà Nội, Tuyên Quang, Sóc Trăng - trước khi sáp nhập địa giới hành chính) với 1.440 học sinh và 960 giáo viên cho thấy một nghịch lý đáng lưu ý: tại khu vực nông thôn, khoảng 30 - 40% học sinh chưa tự tin về năng lực tiếng Anh, dù điểm số trên học bạ vẫn ở mức khá, tốt.
Theo ông Đỗ Đức Lân, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Hợp tác phát triển (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam), các khảo sát tại Tuyên Quang, Sóc Trăng và Hà Nội cho thấy bức tranh nhiều gam màu xám. Tỷ lệ học sinh vượt chuẩn chỉ chiếm 3 - 4%, trong khi phần lớn ở mức đạt hoặc gần đạt.
Một khảo sát khác với hơn 71.000 học sinh trên toàn quốc cho thấy 49% học sinh cảm thấy lo lắng cao khi kiểm tra tiếng Anh, trong đó 22% chịu rất nhiều áp lực. Việc đánh giá kỹ năng nghe - nói chưa được thực hiện thường xuyên, cơ sở vật chất hạn chế, sĩ số lớp đông và áp lực thi cử khiến việc học tiếng Anh vẫn nặng về đọc - viết, thiếu môi trường giao tiếp thực chất.
Ở bậc mầm non, thách thức càng lớn hơn khi sự chênh lệch vùng miền rất rõ rệt. Có địa phương chỉ 2 - 6% trẻ được tiếp cận tiếng Anh, trong khi đội ngũ giáo viên vừa thiếu, vừa chưa ổn định, đặc biệt với giáo viên nước ngoài do phụ thuộc vào thời hạn visa và cơ chế hợp đồng.
Vấn đề nhân lực càng bộc lộ rõ ở các địa bàn khó khăn. Bà Lục Thị Hà, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Pả Vi (huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang cũ, nay thuộc tỉnh Tuyên Quang) cho biết, toàn huyện chỉ có 1 giáo viên tiếng Anh cho 18 trường tiểu học. Dù chỉ tiêu tuyển dụng còn nhiều, việc tìm giáo viên đạt chuẩn vẫn vô cùng khó khăn.
Không chỉ đội ngũ, điều kiện bảo đảm dạy học tiếng Anh cũng còn hạn chế. Khoảng 40 - 50% giáo viên được hỏi cho rằng nhà trường mới chỉ đáp ứng một phần yêu cầu về cơ sở vật chất, học liệu; tỷ lệ đánh giá “đáp ứng đầy đủ” chỉ 25 - 27%. Tỷ lệ giáo viên có thể dạy các môn học bằng tiếng Anh hiện còn rất thấp, khiến việc triển khai các mô hình song ngữ gặp nhiều trở ngại.
Từ thực tế này, ông Đỗ Đức Lân đặt vấn đề: liệu việc triển khai đề án có gặp khó khăn khi ngoại ngữ là môn thi tự chọn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và làm thế nào để bảo đảm động lực học tập thực chất cho học sinh?
Thực tế cho thấy, thiếu giáo viên tiếng Anh đang là thách thức lớn nhất. Theo Bộ GD&ĐT, chỉ riêng giai đoạn đến năm 2030, cả nước cần thêm khoảng 22.000 giáo viên tiếng Anh, chủ yếu ở bậc mầm non và tiểu học. Trong khi đó, hiện nay số giáo viên tiếng Anh chỉ khoảng 30.000 người, tập trung ở tiểu học và THCS; nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa vẫn “trắng” giáo viên.
Các chuyên gia cho rằng, việc chuyển từ “dạy môn tiếng Anh” sang “dạy các môn học bằng tiếng Anh” đòi hỏi giáo viên không chỉ giỏi ngoại ngữ mà còn thành thạo các phương pháp như CLIL, EMI, đồng thời có đủ học liệu và môi trường thực hành.
Bên cạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hiện có, các giải pháp như chính sách thu hút giáo viên về vùng khó khăn, cơ chế để giáo viên nước ngoài tham gia giảng dạy, hay hợp đồng giáo viên ngoài biên chế trong trường công lập cũng được đặt ra.
Cần lộ trình thực tế, tránh “phong trào”
Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học được cụ thể hóa từ Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị, tiếp nối những kết quả và bài học rút ra từ Đề án Ngoại ngữ quốc gia giai đoạn trước. Mục tiêu cốt lõi không chỉ dừng ở việc nâng cao điểm số môn tiếng Anh, mà hướng tới việc hình thành năng lực sử dụng ngoại ngữ như một công cụ học tập, giao tiếp và hội nhập trong môi trường giáo dục.
Tiến sĩ Đỗ Tuấn Minh, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định: “Tiếng Anh phải được xác định là ngôn ngữ thứ hai, song hành với tiếng mẹ đẻ, chứ không phải ngôn ngữ thay thế”.
Đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường cũng cho rằng, việc triển khai không thể dàn hàng ngang, càng không thể làm theo phong trào, mà phải đi từng bước, dựa trên điều kiện thực tế của từng địa phương, từng nhà trường.
Ông Nguyễn Thế Sơn, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông, Bộ GD&ĐT, cho biết để triển khai đề án, hệ thống giáo dục cần bổ sung khoảng 12.000 giáo viên tiếng Anh bậc mầm non, gần 10.000 giáo viên tiểu học, đồng thời bồi dưỡng năng lực cho khoảng 200.000 giáo viên để đủ khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh vào năm 2030. Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều hướng dẫn nhằm hỗ trợ địa phương, từ quy đổi định mức tiết dạy, dạy liên trường đến mở rộng cơ chế thu hút giáo viên nước ngoài và giáo viên hợp đồng. “Việc triển khai phải theo lộ trình, dựa trên điều kiện thực tế từng địa phương, tuyệt đối không dàn hàng ngang hay chạy theo phong trào”, ông Sơn nhấn mạnh.
Nhận diện rõ những khó khăn này, Bộ GD&ĐT khẳng định sẽ triển khai đề án theo hướng linh hoạt, không dàn hàng ngang. “Bộ sẽ làm trước ở những nơi có điều kiện, không cào bằng. Các địa phương phải tính toán kỹ lưỡng nguồn lực, đặc biệt là đội ngũ”, ông Nguyễn Thế Sơn nhấn mạnh.
Song song với đó, vấn đề giữ gìn tiếng mẹ đẻ, dạy tiếng nước láng giềng ở các tỉnh biên giới cũng được đặt ra như một yêu cầu xuyên suốt. Theo các chuyên gia, ở những địa bàn mà học sinh lớp 1 còn chưa thành thạo tiếng Việt, việc tiếp cận tiếng Anh càng cần lộ trình riêng, tránh gây quá tải.
Bộ GD&ĐT khẳng định đã nhận diện rõ những thách thức khi triển khai đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, đặc biệt tại vùng đồng bào DTTS và miền núi. Theo đó, đề án sẽ được triển khai trước tại các khu vực đủ điều kiện, sau đó từng bước mở rộng sang vùng khó khăn, đi kèm các chính sách hỗ trợ đặc thù về đội ngũ, cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ.
Dù còn nhiều thách thức, đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai cho thấy quyết tâm đổi mới mạnh mẽ của ngành Giáo dục nhằm nâng cao năng lực hội nhập của thế hệ trẻ. Thành công của đề án phụ thuộc vào lộ trình thận trọng, sự chuẩn bị đồng bộ về đội ngũ, cơ sở vật chất, phương pháp đánh giá và sự đồng thuận xã hội.
Khi những “nút thắt” về giáo viên và điều kiện dạy học được tháo gỡ, tiếng Anh sẽ không chỉ là một môn học, mà trở thành công cụ mở rộng tri thức, cơ hội và tương lai cho học sinh Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập.
Mở rộng dạy các ngoại ngữ khu vực trong giáo dục phổ thông
Cùng với việc triển khai tiếng Anh như ngoại ngữ bắt buộc, Bộ GD&ĐT đang xây dựng lộ trình mở rộng dạy học nhiều ngoại ngữ khác trong hệ thống giáo dục phổ thông, trong đó có tiếng Lào, tiếng Campuchia, tiếng Thái Lan và tiếng Indonesia. Đây được xem là bước đi nhằm đa dạng hóa lựa chọn ngoại ngữ, đáp ứng nhu cầu học tập, giao tiếp, làm việc và hội nhập ngày càng sâu rộng của người học.
Theo đánh giá của Bộ GD&ĐT, việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Đến nay, 63/63 tỉnh, thành phố đã triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Tiếng Anh. Bên cạnh đó, 41/63 địa phương đang tổ chức giảng dạy các ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh như tiếng Nga, Pháp, Trung Quốc, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, với hơn 41.000 học sinh lựa chọn.
Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Ngoại ngữ được xác định là môn học bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 12, góp phần hình thành nền tảng năng lực ngoại ngữ cho học sinh trên phạm vi cả nước. Tỷ lệ giáo viên tiếng Anh ở các cấp học đạt yêu cầu về năng lực ngoại ngữ để giảng dạy theo chương trình mới hiện đạt khoảng 88%, tăng 22% so với năm 2018.
Tuy nhiên, Bộ GD&ĐT cũng thẳng thắn chỉ ra nhiều hạn chế, thách thức trong thực tiễn. Nội dung chương trình và sách giáo khoa tiếng Anh hệ 10 năm được đánh giá còn dài và khó đối với học sinh ở khu vực nông thôn, vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn. Nhiều trường vẫn tập trung dạy học để đáp ứng yêu cầu thi cử, trong khi việc rèn luyện kỹ năng nghe - nói theo tinh thần chương trình mới chưa được chú trọng đúng mức. Công tác kiểm tra, đánh giá chủ yếu thiên về trắc nghiệm, kiểm tra từ vựng, ngữ pháp và kỹ năng đọc - viết; việc tổ chức đánh giá đầy đủ bốn kỹ năng còn gặp khó khăn về cơ chế, thời gian, kinh phí và đội ngũ.
Triển khai phân tầng, không “một công thức cho tất cả”
Từ góc nhìn quản lý nhà trường, ông Huỳnh Thanh Phú, Hiệu trưởng Trường THPT Bùi Thị Xuân (TP HCM) cho rằng, dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1 chỉ có ý nghĩa khi đi kèm một lộ trình phân tầng rõ ràng theo vùng miền. Theo ông Phú, ở các đô thị lớn, nơi cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên đã sẵn sàng có thể triển khai toàn diện, thậm chí gắn với các chuẩn đánh giá quốc tế như CEFR, IELTS hay TOEFL. Trong khi đó, tại nông thôn và miền núi, cần triển khai theo từng cấp học, từng cụm trường; kết hợp dạy học trực tuyến, truyền hình giáo dục và cơ chế giáo viên luân chuyển. Riêng với vùng biên giới, hải đảo, ông cho rằng cần ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ, tổ chức dạy học từ xa với giáo viên trung tâm, đồng thời bồi dưỡng đội ngũ giáo viên địa phương để bảo đảm tính bền vững, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền.
Bên cạnh đó, tình trạng thiếu giáo viên tiếng Anh, nhất là ở bậc tiểu học tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vẫn phổ biến. Sĩ số học sinh/lớp đông cũng là yếu tố cản trở việc đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt trong các giờ học luyện kỹ năng nói.
Trong bối cảnh đó, Bộ GD&ĐT dự kiến tiếp tục đổi mới mạnh mẽ việc dạy và học ngoại ngữ. Theo kế hoạch, đến năm 2026 sẽ hoàn thành xây dựng Chương trình dạy tiếng Lào cho giáo dục phổ thông và triển khai thí điểm từ năm học 2026 - 2027. Đến năm 2030, Bộ sẽ hoàn thiện các chương trình dạy tiếng Campuchia, tiếng Thái Lan và tiếng Indonesia, đồng thời mở rộng triển khai tại các cơ sở giáo dục có nhu cầu và đủ điều kiện.
Việc mở rộng dạy các ngoại ngữ khu vực không chỉ góp phần nâng cao năng lực ngoại ngữ của người học, mà còn phù hợp với yêu cầu hợp tác, giao lưu kinh tế - văn hóa của Việt Nam trong khu vực ASEAN. Tuy nhiên, để chủ trương này đi vào thực chất, ngành Giáo dục cần tiếp tục giải quyết bài toán đội ngũ, chương trình, phương pháp dạy học và điều kiện triển khai, bảo đảm cơ hội tiếp cận ngoại ngữ công bằng và hiệu quả cho học sinh trên cả nước.
Điều chỉnh mục tiêu theo điều kiện vùng miền:
Đại biểu Nguyễn Thị Lan Anh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai) cho rằng, việc áp dụng mục tiêu 30% cơ sở giáo dục triển khai đồng loạt trên cả nước, không phân biệt điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng và nguồn nhân lực là chưa hợp lý, dễ dẫn tới thiếu công bằng với các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào DTTS.

Theo Đại biểu, tại các địa bàn khó khăn hiện vẫn tồn tại nhiều rào cản lớn như thiếu giáo viên tiếng Anh, năng lực giảng dạy còn hạn chế, áp lực ngân sách cho đầu tư trang thiết bị và duy trì hoạt động. Từ thực tế này, Đại biểu kiến nghị điều chỉnh mục tiêu theo nhóm địa phương: các tỉnh đặc biệt khó khăn áp dụng tỷ lệ khoảng 20%; các tỉnh khó khăn khoảng 25%; các địa phương còn lại từ 30% trở lên, tùy điều kiện thực tế. Đồng thời, Nhà nước cần ưu tiên nguồn lực cho đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh và hỗ trợ kinh phí đầu tư thiết bị tại vùng khó khăn.
Thiếu giáo viên, hạ tầng chưa đồng bộ dễ dẫn đến nguy cơ lãng phí nguồn lực:
Đại biểu Trần Khánh Thu (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) nhấn mạnh sự cần thiết phải đánh giá kỹ điều kiện thực tế trước khi đặt mục tiêu triển khai. Theo bà Thu, hiện cả nước vẫn thiếu khoảng 4.000 giáo viên tiếng Anh; độ tuổi trung bình của giáo viên ở nhiều địa bàn miền núi khá cao (khoảng 44,2 tuổi), gây khó khăn trong tiếp cận phương pháp giảng dạy mới.
Bên cạnh đó, hạ tầng cơ sở vật chất còn chênh lệch lớn giữa các vùng miền, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS nên nếu đầu tư thiết bị nhưng không có đủ giáo viên đạt chuẩn để sử dụng, nguy cơ lãng phí nguồn lực là rất rõ ràng.

Từ đó, Đại biểu đề xuất xây dựng lộ trình cụ thể, ưu tiên đầu tư cho vùng khó khăn: hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng phòng ngoại ngữ đạt chuẩn cho các trường huyện miền núi trước năm 2030; tăng phụ cấp thu hút lên 70 - 100% lương cơ bản, kèm hỗ trợ nhà ở để thu hút giáo viên giỏi; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, kết nối lớp học trực tuyến, sử dụng trí tuệ nhân tạo để bù đắp thiếu hụt đội ngũ, xây dựng trung tâm tiếng Anh theo mô hình liên xã.
Uyên Na (tổng hợp)