Dạy nghề cho lao động nông thôn- Loay hoay tìm hướng đi (kỳ cuối)

Hiện, ở các TTDN giáo viên ít, không bảo đảm yêu cầu giảng dạy. Các TTDN chủ yếu đảm nhiệm khâu tuyển sinh, tổ chức, quản lý lớp. Còn giáo viên được mời từ những trường dạy nghề trong và ngoài thành phố. Việc không chủ động được nguồn giáo viên phần nào ảnh hưởng đến việc mở lớp cũng như chất lượng đào tạo, nhất là thiếu giáo viên giỏi, có tay nghề cao.

Nâng cao năng lực cạnh tranh, dạy nghề

 

Hiện, ở các TTDN giáo viên ít, không bảo đảm yêu cầu giảng dạy. Các TTDN chủ yếu đảm nhiệm khâu tuyển sinh, tổ chức, quản lý lớp. Còn giáo viên được mời từ những trường dạy nghề trong và ngoài thành phố. Việc không chủ động được nguồn giáo viên phần nào ảnh hưởng đến việc mở lớp cũng như chất lượng đào tạo, nhất là thiếu giáo viên giỏi, có tay nghề cao.

 

Mặt khác, cơ sở vật chất của các TTDN huyện còn thiếu, phương tiện máy móc, dụng cụ để học viên thực hành, với những ngành nghề cần đến vật liệu nhiều, thời gian thực hành lớn như hàn, may mặc. Thiếu cơ sở vật chất và giáo viên giỏi là khó khăn cho các TTDN trong cạnh tranh tuyển sinh với các trường dạy nghề. Thêm nữa, các TTDN cũng đang vướng phải những rào cản lớn về nhận thức của người dân trong việc học tập. Nếu cùng mất thời gian, kinh phí để học nghề thì nhiều người chọn học ở các trường trung cấp, cao đẳng nghề hơn là học tại các TTDN. Trong khi đó các doanh nghiệp, công ty, nhà máy thường tuyển dụng những người học qua trường nghề chính quy. Thậm chí, có những công ty chỉ tuyển công nhân do chính trường của tập đoàn đó đào tạo. Theo phân tích của một lãnh đạo TTDN, việc tuyển dụng đó không “công bằng” vì dạy nghề vốn giống nhau về bản chất. Cũng là thợ hàn nếu học ở trường nghề hay TTDN cũng nhằm trang bị cho học viên biết kỹ năng hàn!

 

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong dạy nghề, vừa duy trì được hoạt động của TTDN vừa thực hiện tốt chức năng dạy nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) hiện nay đòi hỏi các TTDN phải đạt được các yếu tố: Đầu tư cơ sở vật chất sao cho “học” đi đôi với “hành”, có giáo viên giỏi để dạy nghề, bảo đảm khi ra trường, học viên không chỉ “biết” nghề mà phải “hiểu” nghề, đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng. Điều này đồng nghĩa với việc khẳng định hiệu quả đào tạo nghề, mới thu hút được người lao động học nghề. Trong giai đoạn hiện nay các cơ sở dạy nghề mọc lên ngày càng nhiều, hình thức đào tạo nghề “trăm hoa đua nở” thì việc mở rộng ngành nghề đào tạo cho phù hợp với nhu cầu của xã hội, bộ máy tuyển sinh cần năng động, công tác tổ chức, quản lý lớp học tốt là những yêu cầu không thể thiếu đối với các TTDN.

 

Liên kết 3 bên: trung tâm dạy nghề-địa phương-nhà tuyển dụng

 

Qua khảo sát thực tế việc dạy nghề và học nghề của LĐNT cho thấy, nơi nào có sự phối hợp chặt chẽ giữa TTDN với chính quyền địa phương, nhà tuyển dụng thì nơi đó, việc dạy nghề cho LĐNT khá hiệu quả. Đơn cử tại huyện Vĩnh Bảo, TTDN tiến hành khảo sát nhu cầu học nghề của nhân dân các xã, xem xét tính đặc thù của từng địa phương, phối hợp chặt chẽ với chính quyền trong việc tuyên truyền, động viên khuyến khích người lao động đi học. Phân tích rõ lợi thế học nghề tại địa phương không phải đi xa, đỡ tốn kém kinh phí, gia đình dễ quản lý… Từ đó mở lớp học nghề đúng, trúng nhu cầu học của người lao động.

 

Xã Hùng Tiến trong huyện có nghề mây tre đan, người dân vốn đã biết nghề, nhưng để làm ra những sản phẩm đẹp, có chất lượng và kiểu dáng theo mẫu mã thị trường cần thì chưa  đáp ứng được. Nay lớp dạy nghề mây tre đan đáp ứng được các yêu cầu về thẩm mỹ và thị trường. Khi cần làm một loạt sản phẩm, có thể huy động các hộ cùng làm, sớm hoàn thành theo yêu cầu đặt hàng. Hay như ở xã Đồng Minh có nghề dệt chiếu cói bị mai một. Nay khôi phục lại, TTDN huyện mở lớp ngay tại xã, thu hút đông người lao động theo học. Khi học nghề, làm ra sản phẩm, được thu mua lại, khá ổn định về đầu ra. Thậm chí giáo viên giảng dạy còn khuyến khích học viên tự tìm đầu ra để quảng bá sản phẩm, miễn là phải trung thực, giữ chữ tín cho cơ sở sản xuất chung. 

 

Một trong những điều người lao động quan tâm là cơ hội có việc làm sau khi học. Nếu TTDN nào làm tốt việc giới thiệu việc làm sau học nghề sẽ có uy tín, thu hút được người học. TTDN Thăng Long khi tuyển sinh đồng thời liên hệ với các đơn vị có nhu cầu sử dụng lao động liên quan đến ngành nghề đào tạo. Khi hoàn thành khoá học, người học sẽ được giới thiệu vào làm việc tại các đơn vị. Theo thống kê chưa đầy đủ của Trung tâm dạy nghề Thăng Long 70% lao động sau khi học có việc làm. Tại TTDN huyện Vĩnh Bảo, với những lớp như khâu bóng, may công nghiệp, trung tâm liên kết với các cơ sở may trên địa bàn như Công ty May Hai hay Công ty Da giày để khi học xong học viên được nhận vào làm việc. Tỷ lệ  học viên có việc làm, có thu nhập ổn định là 90% (10% do bỏ việc hoặc phải đào tạo lại)…

 

Dạy nghề cho LĐNT là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước mang tính an sinh xã hội đang triển khai ở các địa phương. Tuy nhiên, để thực hiện chủ trương đó đạt hiệu quả cao, thiết thực với nông dân rất cần sự quan tâm từ nhiều cấp, ngành. Ông Phạm Anh Nấm, Phó giám đốc Trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm (Sở Lao động-Thương binh Xã hội) cho rằng, việc đầu tư kinh phí đào tạo nghề không nên thực hiện một cách dàn trải theo kiểu “cào bằng” mà cần xem xét thực tế hiệu quả dạy nghề của từng trung tâm. TTDN nào có năng lực, khả năng dạy nghề đáp ứng tốt theo nhu cầu của doanh nghiệp cần được ưu tiên cấp kinh phí. Ông Trần Đức Đầy, Giám đốc Trung tâm dạy nghề Thăng Long nêu ý kiến: Không nên phân biệt TTDN (thuộc Sở Lao động-Thương binh Xã hội) với các TTDN của tổ chức, công ty khác, mà nên xem xét năng lực thực tế và hiệu quả dạy nghề để khuyến khích các trung tâm. Thậm chí nên tổ chức “đấu thầu” nguồn kinh phí ngân sách cấp cho dạy nghề để những trung tâm có khả năng, có điều kiện tham gia huy động được cả nguồn vốn tự có; Việc phân bổ kinh phí cần được thông báo sớm từ đầu năm để các TTDN chủ động trong công tác tuyển sinh và sắp xếp lịch học. Danh mục dạy nghề cho nông dân cần sát với thực tế lao động tại nhiều địa phương  .

 

Phương Nam-Đỗ Oanh