Đầu tư nhỏ giọt, khoa học công nghệ khó phát huy vai trò động lực (kỳ 1)
Trong tiến trình thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, khoa học-công nghệ được xác định là động lực để phát triển kinh tế-xã hội. Nhưng thực tế, việc đầu tư cho phát triển nhỏ giọt, không có trọng tâm, trọng điểm khiến KHCN khó phát huy vai trò động lực.
Đầu tư phát triển giảm mạnh
Theo tinh thần Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Hải Phòng trong thời kỳ CNH-HĐH, Chi cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng được xác định là trọng điểm, được thành phố xem xét đầu tư trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu đo lường của khu vực duyên hải Bắc Bộ. Dự án được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cơ bản hoàn thành. Chi cục tiếp tục xây dựng đề án trình UBND thành phố phê duyệt giai đoạn 2. Sau nhiều năm chờ đợi, chỉnh sửa, trình duyệt, năm 2008, dự án được UBND thành phố phê duyệt với tổng vốn đầu tư 31 tỷ đồng. Nhưng năm 2009, dự án mới được bố trí vốn …1 tỷ đồng. Có lẽ đây là dự án duy nhất của ngành KHCN được phê duyệt và bắt đầu triển khai trong năm 2009 sau nhiều năm mong đợi. Một số dự án khác như đầu tư xây dựng Trung tâm nghiên cứu ứng dụng KHCN (Sở KHCN), Vườn ươm Đằng Giang… vẫn trong tình trạng chờ phê duyệt và bố trí vốn.
Theo báo cáo của Sở KH-CN, ngân sách của thành phố đầu tư phát triển KHCN những năm gần đây liên tục giảm mạnh. Năm 2006, ngân sách thành phố đầu tư cho phát triển KHCN hơn 10 tỷ đồng, bằng 51,97% số kinh phí Trung ương giao. Năm 2009, ngân sách thành phố đầu tư cho phát triển KHCN còn 4,89 tỷ đồng, bằng 12,23% số kinh phí Trung ương giao. Lý giải tình trạng ngân sách đầu tư phát triển KHCN liên tục giảm hằng năm, đại diện Sở Kế hoạch-Đầu tư cho rằng, ngành KHCN không có dự án chuẩn bị chờ phê duyệt để thành phố bố trí vốn. Trên thực tế, hằng năm, Sở KH-CN tập hợp và gửi danh sách các dự án đề nghị UBND thành phố phê duyệt và triển khai. Tuy nhiên, các dự án liên quan đến lĩnh vực KHCN đều bị “gạt” khỏi danh sách. Như vậy không có dự án chuẩn bị chờ phê duyệt bố trí vốn đầu tư nên UBND thành phố không có cơ sở cấp vốn.
- Năm 2006, ngân sách UBND thành phố phê duyệt cho đầu tư phát triển KHCN 10,031 tỷ đồng, bằng 51,97% dự toán Trung ương giao. - Năm 2007, ngân sách bố trí 4,82 tỷ đồng, bằng 22,95% dự toán Trung ương giao. - Năm 2008, ngân sách bố trí 7,622 tỷ đồng, bằng 24,58% dự toán Trung ương giao. - Năm 2009, ngân sách bố trí 4,89 tỷ đồng, bằng 12,23% dự toán Trung ương giao.
Kinh phí dành cho nghiên cứu quá thấp
Phó giám đốc Sở KHCN Bùi Xuân Tuấn thẳng thắn: Mặc dù kinh phí sự nghiệp KHCN được thành phố bố trí năm sau cao hơn năm trước và vượt dự toán Trung ương giao, nhưng kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học chỉ khoảng 5,8 tỷ đồng. Mặc dù năm 2008, kinh phí sự nghiệp cho ngành KHCN được bố trí hơn 30 tỷ đồng, nhưng 1/3 trong số đó dành chi trả cho một số đơn vị “ngoài ngành KHCN”. Số còn lại dùng thực hiện chương trình KHCN hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập, chi trả lương, thưởng cho các bộ, nhân viên sở và các đơn vị trực thuộc...
Năm 2009, dự kiến số kinh phí dành cho nghiên cứu, thực hiện nhiệm vụ KHCN tương ứng với mức năm 2008. Tuy nhiên, số nhiệm vụ nghiên cứu ở một số lĩnh vực dự kiến kinh phí khá lớn, khoảng 3,5 tỷ đồng hoặc 1,5 tỷ đồng. Trong trường hợp, những nhiệm vụ nghiên cứu đó được duyệt, khoản kinh phí còn lại không đủ để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khác.
Để khắc phục những khó khăn về kinh phí, ngành KHCN tập trung đầu tư thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu KHCN ở một số lĩnh vực trọng tâm như y dược, kinh tế biển, thủy sản, công nghiệp…, trong đó, liên quan đến thủy sản, nông nghiệp chiếm 50% số nhiệm vụ nghiên cứu. Trong 5 năm gần đây, số nhiệm vụ nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực y dược tăng mạnh. Nhiều kỹ thuật mới được áp dụng và triển khai như kỹ thuật mổ nội soi để điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát; điều trị u đại phì lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp cắt nội soi; nghiên cứu thực trạng viêm gan C tại Hải Phòng và đề xuất một số giải pháp phòng chống; áp dụng thành công kỹ thuật cắt tử cung qua soi điều trị các bệnh phụ khoa… Những kết quả nghiên cứu này được ứng dụng phù hợp với điều kiện trang thiết bị hiện có của các cơ sở y tế, con người Hải Phòng, qua đó góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, giảm thời gian nằm viện và chi phí cho người bệnh.
Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ nghiên cứu khoa học hiện nay, kinh phí có hạn nên nhiều nhiệm vụ không thể triển khai./.
Hồng Dương