Đấu thầu các chương trình phổ biến pháp luật?

 Để chuẩn bị cho Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) sẽ được trình Chính phủ xem xét tại phiên họp thường kỳ tháng 5, Văn phòng Chính phủ hôm qua tổ chức hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia về dự thảo luật này.

Để chuẩn bị cho Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) sẽ được trình Chính phủ xem xét tại phiên họp thường kỳ tháng 5, Văn phòng Chính phủ hôm qua tổ chức hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia về dự thảo luật này.

Theo LS.Trần Hữu Huỳnh (Trưởng ban pháp chế - VCCI) dự luật còn chưa thể hiện được rõ ràng về chính sách “từng bước xã hội hóa công tác PBGDPL, khuyến khích, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động PBGDPL”. Điều này, theo LS Huỳnh, thể hiện ở việc qui định về vai trò của báo cáo viên của các tổ chức thành viên UB MTTQ VN còn “mờ nhạt” so với các báo cáo viên của các cơ quan Nhà nước.

Một sáng kiến để tăng cường chất lượng và nguồn lực cho hoạt động này được LS.Huỳnh nêu ra là nên xem xét đấu thầu các chương trình PBPL. Đồng thời, cần tạo cơ chế để các hiệp hội, doanh nghiệp trở thành chủ thể PBPL vì “việc tham gia của DN vào hoạt động này vừa tăng cường thêm nguồn lực, vừa  giảm được chi phí cho Nhà nước”.

Bà Tạ Thị Minh Lý (Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp) băn khoăn về vai trò các cơ quan, tổ chức (chủ thể khác) đang thực hiện PBPL và tư vấn pháp luật trong dự thảo Luật PBGDPL. Với gần 2.000 tổ chức hành nghề LS, trên 60 trung tâm tư vấn pháp luật, 63 trung tâm trợ giúp pháp lý cùng gần 160 chi nhánh, 6.000 câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, 700 tòa án các cấp, gần 500 chi nhánh của công ty luật nước ngoài, tổ chức quốc tế… đang trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia PBGDPL, bà Lý thấy dự luật cần xem xét đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này.

Trước vai trò của hình thức phổ biến thông qua phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là internet trong việc giảm chi phí và mở rộng khả năng tiếp cận cho các đối tượng thụ hưởng, nhiều chuyên gia đề nghị coi PBPL qua internet như “một hình thức phổ biến tương lai cần hướng đến” và cần những qui định cụ thể hơn ngay trong dự luật này.

Quan tâm đến tính khả thi của dự luật, các chuyên gia băn khoăn khi các qui định trong dự luật “còn chung chung, mang tính chính sách nên khó triển khai trên thực tế” và “có cơ chế nào để bắt buộc hay chế tài nếu các chủ thể không thực hiện hoạt động PBGDPL?”…

Đây là dự thảo Luật “khó” vì hiệu quả hoạt động PBGDPL cần thời gian kiểm chứng. Những yếu tố tham gia hoạt động này nhiều khi hòa trộn trong những hoạt động khác khiến việc xác định các vấn đề để qui định cho cụ thể là “không hề dễ dàng”.

Tuy vậy, các chuyên gia đều có chung nhận định, với những qui định hiện hành, dự thảo Luật PBGDPL đã qui định khá đầy đủ về các nội dung chính của hoạt động PBGDPL, phân định được các đối tượng PBPL đặc thù, từ đó đưa ra nội dung và hình thức phổ biến phù hợp. Bước đầu, dự luật đã qui định được trách nhiệm cụ thể của các cơ quan nhà nước trong công tác PBGDPL… và hy vọng góp phần khắc phục được những hạn chế của công tác PBGDPL hiện nay.

Huy Anh