Đào tạo giáo viên: Giảng viên trình độ tiến sĩ phải trực tiếp giảng dạy ít nhất 60% khối lượng học tập theo quy định
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa ban hành Chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học nhóm ngành Đào tạo giáo viên, trong đó quy định giảng viên toàn thời gian có trình độ tiến sĩ phải trực tiếp giảng dạy ít nhất 60% tổng khối lượng học tập thuộc khối kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành và kiến thức chuyên sâu.
Ngày 4/11/2026, Bộ GDĐT ban hành Quyết định số 3198/QĐ-BGDĐT về Chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học nhóm ngành Đào tạo giáo viên, quy định các yêu cầu tối thiểu áp dụng chung đối với chương trình đào tạo giáo viên trình độ đại học.
Việc ban hành Chuẩn nhằm cụ thể hóa yêu cầu chuẩn hóa chương trình và chuẩn đầu ra đào tạo giáo viên theo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 500/TB-VPCP ngày 25/9/2026. Đây cũng là bước triển khai định hướng nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ nhà giáo theo Nghị quyết số 71-NQ/TW, đồng thời gắn đào tạo giáo viên với yêu cầu chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Quy định cụ thể tỷ lệ giảng dạy trực tiếp của giảng viên có trình độ tiến sĩ
Theo Chuẩn mới, giảng viên toàn thời gian có trình độ tiến sĩ phải trực tiếp giảng dạy ít nhất 60% tổng khối lượng học tập thuộc khối kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành và kiến thức chuyên sâu.
Đối với thành phần nghiệp vụ sư phạm, ít nhất 50% số giảng viên trực tiếp giảng dạy phải có trình độ tiến sĩ và chuyên môn phù hợp với học phần được phân công.
Bên cạnh yêu cầu về trình độ và khối lượng giảng dạy trực tiếp, Bộ GDĐT cũng quy định cụ thể điều kiện về đội ngũ giảng viên tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện và chủ trì giảng dạy chương trình đào tạo giáo viên. Theo đó, mỗi chương trình phải có ít nhất một giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ ngành phù hợp, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm quản lý đào tạo hoặc giảng dạy đại học, chịu trách nhiệm chủ trì xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình.
Để chủ trì giảng dạy, chương trình phải có ít nhất 5 giảng viên cơ hữu hoặc đồng cơ hữu có trình độ tiến sĩ, chuyên môn phù hợp, trong đó ít nhất 2 người có chuyên môn về khoa học giáo dục. Sau 3 năm kể từ ngày ban hành Chuẩn, số lượng tiến sĩ cơ hữu, đồng cơ hữu chủ trì giảng dạy chương trình phải đạt ít nhất 7 người.
Sinh viên sư phạm phải đạt chuẩn ngoại ngữ, được trang bị kỹ năng sử dụng AI
Chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học nhóm ngành Đào tạo giáo viên cũng xác định cụ thể những năng lực sinh viên sư phạm cần đạt khi tốt nghiệp, trong đó có năng lực ngoại ngữ và năng lực số. Theo đó, sinh viên sư phạm khi tốt nghiệp phải đạt trình độ ngoại ngữ tối thiểu bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam, trừ trường hợp chương trình đào tạo có yêu cầu cao hơn.
Riêng sinh viên ngành Sư phạm tiếng nước ngoài phải đạt tối thiểu bậc 5 đối với ngoại ngữ chính và bậc 3 đối với ngoại ngữ phụ. Yêu cầu đối với sinh viên sư phạm là người nước ngoài thực hiện theo quy định hiện hành của Bộ GDĐT.
Về năng lực số, các cơ sở đào tạo giáo viên có trách nhiệm rà soát, xây dựng yêu cầu về năng lực số trong chuẩn đầu ra của từng chương trình trên cơ sở tham chiếu Khung năng lực số cho người học do Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành. Từng cơ sở đào tạo phải xác định mức năng lực sinh viên cần đạt, quy định cách đánh giá và công khai trong chương trình đào tạo. Các yêu cầu này phải phù hợp với đặc thù ngành đào tạo, năng lực nghề nghiệp của giáo viên và điều kiện bảo đảm chất lượng của cơ sở.
Nội dung ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), bao gồm AI tạo sinh, phải được tích hợp xuyên suốt chương trình đào tạo và gắn với thực hành sư phạm số. Sinh viên được rèn luyện cách lựa chọn, sử dụng và kiểm chứng kết quả do AI tạo ra khi xây dựng học liệu, tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá.
Việc sử dụng AI phải bảo đảm các nguyên tắc đạo đức, an toàn, tôn trọng quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Người dạy có trách nhiệm kiểm chứng kết quả do AI tạo ra trước khi sử dụng trong các quyết định giáo dục có ảnh hưởng đến người học.
Ngoài ra, các chuẩn đầu ra về phẩm chất, năng lực chung, năng lực sư phạm và năng lực chuyên môn phải được cụ thể hóa thành những chỉ báo có thể quan sát, đo lường và đánh giá. Chương trình đào tạo hướng tới giúp sinh viên đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo, giải quyết vấn đề trong thực tiễn, tiếp tục phát triển nghề nghiệp và học tập suốt đời.
Chương trình đào tạo tối thiểu 125 tín chỉ, chú trọng thực hành sư phạm
Về cấu trúc chương trình, Bộ GDĐT quy định chương trình đào tạo giáo viên trình độ đại học có thời gian đào tạo chuẩn 4 năm, với khối lượng học tập ít nhất 125 tín chỉ, chưa bao gồm các học phần giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng - an ninh theo quy định.
Trong đó, thành phần nghiệp vụ sư phạm có ít nhất 30 tín chỉ, với tối thiểu 12 tín chỉ dành cho rèn luyện nghiệp vụ, thực hành và thực tập sư phạm. Trong 12 tín chỉ tối thiểu này, ít nhất 8 tín chỉ dành cho hoạt động thực hành, thực tập tại các cơ sở thực hành, thực tập.
Hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm được tổ chức theo lộ trình từ trải nghiệm môi trường giáo dục, tập dạy trong lớp học và môi trường số đến thực tập từng phần và thực tập toàn diện.
Cơ sở đào tạo phải có cơ sở thực hành sư phạm hoặc có thỏa thuận hợp tác với các cơ sở giáo dục phù hợp, đồng thời tổ chức phối hợp giữa giảng viên sư phạm và giáo viên hướng dẫn tại nơi thực hành, thực tập. Các chương trình đào tạo được ban hành sau thời điểm Quyết định có hiệu lực phải thực hiện theo Chuẩn.
Đối với các chương trình được ban hành trước ngày Quyết định có hiệu lực, cơ sở giáo dục đại học được phép đào tạo các ngành thuộc nhóm ngành Đào tạo giáo viên có trách nhiệm hoàn thành việc rà soát, cập nhật chương trình để đáp ứng các tiêu chí của Chuẩn trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày Quyết định có hiệu lực.