Dân số và chất lượng cuộc sống
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình. Tháng 12-1961, Chính phủ có văn bản hướng dẫn về sinh đẻ có kế hoạch. Từ đó, ngày 26-12 hàng năm được gọi là ngày dân số Việt Nam. Một mục tiêu của công tác dân số-KHHGĐ ở nước ta là bảo đảm dân số ổn định, phát triển kinh tế-xã hội bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Công tác dân số gắn với sự phát triển bền vững. Việc hoạch định chiến lược và chính sách về dân số được xem xét cùng với sự phát triển sản xuất, ổn định xã hội, nhằm đem lại cho người dân cuộc sống đầy đủ về cả vật chất và tinh thần.
Thực tế công tác dân số-KHHGĐ tại thành phố những năm qua cho thấy, chương trình dân số góp phần quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Công tác dân số-KHHGĐ được xã hội hóa, lồng ghép với nhiều chương trình, hoạt động của các ban, ngành, tổ chức, đoàn thể. Dân số gắn trực tiếp với hoạt động của ngành y tế, và là một chương trình trọng tâm của MTTQ thành phố và các hội phụ nữ, nông dân, đoàn thanh niên, ngành văn hóa-thông tin...Để thực hiện mục tiêu giảm sinh, ổn định quy mô dân số, thành phố tăng cường tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố về công tác dân số-KHHGĐ. Thành phố chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động mạng lưới y tế từ thành phố đến cơ sở, đáp ứng dịch vụ KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản người dân. Chương trình xóa đói, giảm nghèo triển khai với nhiều nội dung cụ thể, trong đó, cấp thẻ bảo hiểm y tế để người nghèo được chăm sóc sức khỏe, cho người nghèo vay vốn phát triển sản xuất...Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em được quan tâm. Trẻ em trong độ tuổi được tiêm vắc-xin phòng các bệnh nguy hiểm. Phụ nữ độ tuổi sinh đẻ được tiêm vắc-xin phòng uốn ván, phụ nữ có thai được quản lý thai nghén tại trạm y tế cơ sở, uống viên sắt phòng thiếu máu và vi-ta-min A phòng bệnh khô mắt...Từ năm 2000 đến nay, 100% số trạm y tế xã có bác sĩ; 70% có y sĩ, sản, nhi hoặc nữ hộ sinh trung học. Người dân ngoại thành và hải đảo được hưởng các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản có chất lượng ngay trên quê hương mình.
Các hoạt động đồng bộ đó chuyển biến nhận thức và hành vi của người dân về công tác dân số-KHHGĐ. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tăng bình quân gần 2%/năm. Mức sinh giảm nhanh kể từ năm 1989 đến nay. Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 2,9 con (năm 1989) xuống còn 1,9 con (năm 2003). Tỷ lệ người sinh con thứ ba trở lên giảm mạnh, từ 19,3% xuống còn 6%. Thống kê của ngành dân số thành phố cho thấy, từ năm 1992, khi ngành dân số được thành lập đến nay, mỗi năm thành phố giảm sinh từ 60 đến 70 nghìn trẻ em, bằng dân số một xã. Thực hiện có hiệu quả việc giảm sinh, giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên và số người sinh con thứ ba trở lên, chương trình dân số-KHHGĐ góp phần tích cực phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.