Cưỡng chế Thi hành án dân sự: Khi chấp hành viên cân bằng giữa pháp luật và lòng người
Thi hành án dân sự là hoạt động nhạy cảm. Ở giai đoạn đó, quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự được thực thi trên thực tế. Với tâm lý “của đau con xót”, người phải thi hành án không muốn “rời xa” các tài sản mà mình phải thực hiện nghĩa vụ chuyển giao hoặc không muốn thanh toán nghĩa vụ bằng tiền cho người được thi hành án. Người được thi hành án thì với tâm lý “mong đợi” và “sốt ruột” khi chưa nhận được quyền lợi của mình theo án tuyên.
Với tâm lý trái chiều như vậy, việc tổ chức thi hành án muốn thành công luôn cần hoạt động tuyên truyền, vận động, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc thỏa thuận thi hành án. Tuy nhiên, để làm tốt công tác này, đòi hỏi Chấp hành viên ngoài việc có kiến thức chuyên môn vững vàng còn cần hiểu biết sâu rộng về pháp luật nói chung, đồng thời xây dựng cho mình kiến thức về xã hội, tâm lý học và các kỹ năng mềm cần thiết khác.
Tại các buổi vận động thuyết phục tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án, Chấp hành viên cần nắm vững và vận dụng các quy định của Luật THADS và các văn bản hiện hành, các quy định của các ngành luật có liên quan (Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân gia đình, Luật doanh nghiệp, Luật Đất đai…) mà còn phải nghiên cứu thật kỹ các thông tin về vụ việc qua nghiên cứu bản án, các thông tin có được qua quá trình xác minh thi hành án để kịp thời nắm bắt đặc điểm mấu chốt của vụ việc, tâm lý, tình cảm của các bên đương sự, các yếu tố khách quan, các cá nhân có tầm ảnh hưởng đến thái độ chấp hành pháp luật, thiện chí thỏa thuận của các bên đương sự…để vận dụng tài tình, linh hoạt vào trong từng vụ việc thi hành án cụ thể.
Để phát huy hiệu quả công tác vận động, thuyết phục trong Thi hành án dân sự không phải là hoạt động dễ dàng. Bởi việc đương sự tự nguyện chấp hành nội dung bản án hoặc thỏa thuận thi hành án với nhau xuất phát trước tiên là ý thức tuân thủ pháp luật của các bên đương sự có liên quan đến việc thi hành án. Trong điều kiện nhận thức pháp luật của các cá nhân, thậm chí nhiều cơ quan tổ chức còn hạn chế, đã xuất hiện nhiều trường hợp khi được Chấp hành viên giải thích, vận động thì tỏ ra thiếu tôn trọng, không hợp tác, nhiều trường hợp người phải thi hành án cố tình chây ỳ, tẩu tán tài sản, lẩn tránh nghĩa vụ phải thi hành hoặc bỏ đi khỏi nơi cư trú để tạo ra những cản trở, khó khăn cho quá trình giải quyết vụ việc.
Để đạt hiệu quả cao trong công tác vận động, thuyết phục, trước hết Chấp hành viên phải có năng lực thuyết phục, tận tâm với công việc, nhiệt huyết, am hiểu pháp luật, kiên trì, khôn khéo để giải thích thấu tình, đạt lý cho đương sự hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trước pháp luật, phải nắm bắt được nhân thân, hoàn cảnh gia đình, các mối quan hệ xã hội của đương sự để từ đó tìm ra cách vận động, thuyết phục hiệu quả nhất đối với từng đối tượng cụ thể.
Từ thực tiễn cho thấy để công tác vận động, thuyết phục đạt hiệu quả cao, ngoài những kỹ năng, kinh nghiệm, lòng yêu nghề… Chấp hành viên, thư ký người làm công tác Thi hành án dân sự phải nghiên cứu những thông tin trong bản án, tìm hiểu rõ về nhân thân, hoàn cảnh gia đình, các mối quan hệ và nhất là vấn đề bức xúc, của các đương sự để tạo sự đồng cảm và đặt niềm tin vào cơ quan thi hành án từ đó tìm ra cách vận động, thuyết phục hiệu quả nhất. Với từng đối tượng là tri thức, công nhân hay nông dân lại có cách vận động, thuyết phục khác nhau, tất cả sẽ được đúc kết dần theo kinh nghiệm công tác. Để công tác vận động, thuyết phục trong Thi hành án dân sự đạt hiệu quả cao, thì đòi hỏi người làm công tác thi hành án cần phải có một số kỹ năng cơ bản như sau:
Thứ nhất, người làm công tác thi hành án phải am hiểu các nội dung về pháp luật hiện hành và một số văn bản hướng dẫn thi hành luật có liên quan đến công tác Thi hành án dân sự; áp dụng thành thạo các nguyên tắc, thủ tục về nghiệp vụ thi hành dân sự, bên cạnh đó còn phải kiên trì công tác vận động, thuyết phục, xuyên suốt trong quá trình thi hành án.
Thứ hai, người làm công tác thi hành án cũng cần có sự am hiểu về phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa của địa phương, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, phối hợp của chính quyền địa phương cấp cơ sở và những người thân thích của đương sự… để việc vận động, thuyết phục đạt hiệu quả.
Thứ ba, chú trọng công tác phân loại và nắm bắt tâm lý đương sự. Khi được phân công tổ chức thi hành vụ việc thì bản thân Chấp hành viên cần nghiên cứu kỹ bản án, quyết định của Tòa án, tìm hiểu rõ nhân thân, quan hệ gia đình, xác định thái độ của đương sự; mối quan hệ xã hội của các đương sự để lựa chọn phương pháp tiếp cận phù hợp. Đối với trường hợp khó khăn thực sự: vận động thi hành từng phần, trả dần. Đối với trường hợp cố tình chây ỳ: kiên trì thuyết phục nhưng đồng thời chuẩn bị biện pháp cưỡng chế. Cụ thể:
Nếu trong quá trình giải quyết vụ việc mà không nghiên cứu kỹ nội dung bản án, quyết định của Tòa án cũng như không nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, tâm lý của đương sự dễ dẫn đến không thể đưa ra biện pháp giải quyết phù hợp, làm tăng thêm tâm lý bức xúc của đương sự dẫn đến họ chống đối gây khó khăn cho công tác giải quyết án và hậu quả là dẫn đến việc kéo dài thời gian giải quyết, ảnh hưởng đến thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao..
Tìm hiểu các mối quan hệ bên ngoài xã hội của đương sự qua các kênh thông tin khác nhau, chọn lọc và tác động đến những người có ảnh hưởng lớn đối với đương sự, giúp đương sự nhận thức và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ.
Tìm hiểu các vấn đề khác có liên quan đến đương sự. Tuỳ thuộc vào từng loại vụ việc, từng đương sự sẽ có những đặc điểm tâm lý khác nhau mà Chấp hành viên cần tinh ý, linh hoạt, khéo léo để có thể xác định cần thu thập những thông tin nào phục vụ cho việc vận động, thuyết phục và phân tích mọi khía cạnh, tìm được giải pháp thuận lợi nhất để thuyết phục đương sự tự nguyện.
Trong cuộc đời là Chấp hành viên, chắc chắn chúng ta ai cũng đạt được những kết quả nhất định trong công tác vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án hoặc thỏa thuận thi hành án. Và chắc hẳn, trong tâm trí từng Chấp hành viên sẽ khắc ghi những kết quả đó như những kỷ niệm đẹp, những kinh nghiệm quý báu để bồi đắp phong phú thêm hành trang làm nghề của mình. Chúng tôi cũng vậy, cảm xúc hạnh phúc, mãn nguyện nhưng vẫn còn vẹn nguyên hơn một năm về trước khi công tác kiên trì vận động, thuyết phục của chúng tôi đã gặt hái trái ngọt trong công tác. Chúng tôi xin nhớ và kể lại để chia sẻ niềm vui, kinh nghiệm đến các đồng nghiệp để chúng ta thêm tin tưởng vào con đường mình đã chọn, tận tâm tận lực với nhiệm vụ ắt chúng ta sẽ thành công.
Chuyện xảy ra đã hơn một năm trước khi chúng tôi kiên quyết thi hành dứt điểm Bản án số 01/1991/DSST ngày 30 tháng 4 năm 1991 của Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội và Bản án 180/1991/DSPT ngày 22/8/1991 của TAND TP. Hà Nội. Theo Quyết định số 01-KPTH/THA ngày 30/9/1997 về việc khôi phục thời hiệu thi hành án và Quyết định Thi hành án số 43/THADS ngày 01/10/1997 của Đội trưởng Đội Thi hành án dân sự huyện P, Hà Nội thì ông N.V.C trú tại xã V. X, huyện P, tỉnh Hà Tây phải trả cho ông Đ.V.M (địa chỉ: xã L.H, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) số tài sản gồm 03 gian nhà xây lợp ngói, 03 gian bếp chuồng lợn xây lợp ngói và các công trình phụ làm trên diện tích đất 144 m2, số thửa 780/100 tại xã V. X, huyện P.
Quá trình tổ chức thi hành án, người phải thi hành án là ông N.V.C không đồng ý với việc thi hành bản án nêu trên: vì theo Bản án gia đình ông Đ.V.M được nhận lại tài sản nhưng phải thanh toán trả gia đình ông Chí số tiền hủy hợp đồng mua bán và tiền sửa chữa, tu bổ tài sản là 4.901.000đ (tương đương 2.226 kg gạo). Năm 1998, Chấp hành viên đã căn cứ vào giá gạo thị trường tại địa phương để thu số tiền cho gia đình ông C và đã thông báo nhưng gia đình ông C không nhận vì lý do giá trị số tiền không phù hợp với giá trị tài sản.
Do hết thời gian tự nguyện thi hành án, ông N.V.C có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên ban hành Quyết định cưỡng chế thi hành án số 01/THA ngày 03/01/1998 đối với ông N.V.C bằng biện pháp giao tài sản cho người được thi hành án và dự kiến thời gian tổ chức vào ngày 13/01/1998.
Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện cưỡng chế không thực hiện được do UBND xã V.X có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét bản án và các quyết định thi hành án. Vụ việc kéo dài không thi hành được do không có sự đồng thuận của chính quyền cơ sở mặc dù đã có văn bản của cơ quan có thẩm quyền khẳng định giá trị pháp lý của các quyết định về thi hành án và đề nghị chính quyền địa phương phối hợp với các cơ quan chức năng giải quyết việc thi hành bản án có hiệu lực.
Xét thấy vụ việc có tính chất phức tạp, trên cơ sở đề nghị của Đội THA huyện P, Phòng THA tỉnh Hà Tây đã rút vụ việc lên để giải quyết. Quá trình giải quyết việc thi hành án, Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã V.X đã có sự đồng thuận với việc đưa bản án ra thi hành nhưng có ý kiến về việc đề nghị xem xét tháo gỡ về quyền lợi các bên cho phù hợp.
Để có cơ sở tổ chức thỏa thuận giữa các bên, tháng 4/1998, Chấp hành đã tổ chức hội nghị định giá tài sản với sự tham gia của các cơ quan chức năng, qua định giá cho thấy toàn bộ số tài sản phát sinh do ông Chí xây dựng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật có giá trị là 15.352.385 đồng. Chấp hành viên đã vận động ông Đ.V.M nộp tiền để nhận sử dụng các công trình do ông N.V.C xây thêm nhưng cả 2 bên đương sự đều không đồng ý thực hiện. Xác định đây là vụ việc có tính chất phức tạp, Phòng THA tỉnh H.T đã thực hiện thủ tục xin ý kiến hướng dẫn nghiệp vụ của Cục quản lý THADS -Bộ Tư pháp. Sau khi có hướng dẫn nghiệp vụ của Cục quản lý THADS, Chấp hành viên Phòng THADS tỉnh Hà Tây đã làm việc nhiều lần với các bên nhưng không đạt kết quả.
Xét thấy, đây là vụ việc có khó khăn phức tạp không chỉ xuất phát từ sự chống đối quyết liệt của người phải thi hành án mà còn chưa nhận được sự đồng thuận của chính quyền cơ sở trong việc tổ chức cưỡng chế thi hành án. Để khắc phục tình huống này, nhằm kiên trì vận động các bên đương sự cũng như kiên trì tranh thủ sự đồng thuận của chính quyền cơ sở, xét thấy việc bàn giao về cho Đội thi hành án huyện P tổ chức thi hành vụ việc sẽ hiệu quả hơn, Phòng THA tỉnh Hà Tây đã có văn bản số 102/THA ngày 26/4/2020 bàn giao lại hồ sơ cho Đội Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ.
Nhìn về phương diện chuyên môn, đây là vụ việc phức tạp do từ thời gian xét xử đến khi khôi phục thời hiệu là hơn 6 năm, tài sản nơi phải thi hành án có nhiều thay đổi, các bên đương sự luôn có ý kiến trái chiều để bảo vệ quyền lợi của mình do vậy, chính quyền cơ sở đã không đồng thuận phối hợp thực hiện. trong bối cảnh việc tổ chức thi hành án chưa xong, Chấp hành viên không chỉ chịu áp lực về kết quả tổ chức thi hành mà người được thi hành án còn liên tục có đơn thư kiến nghị về việc chậm thi hành án đến cơ quan Trung ương.
Để tháo gỡ khó khăn trong công tác phối hợp, Phòng Thi hành án tỉnh Hà Tây có văn bản số 240/THA ngày 18/02/2000 gửi đồng chí Chủ tịch UBND huyện P, Ban Chỉ đạo THADS huyện P đề nghị chỉ đạo các cơ quan liên quan và UBND xã V.X phối hợp thi hành án. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cũng có văn bản số 39/UBND-NC ngày 05/01/2009 chỉ đạo giao THADS TP Hà Nội chủ trì phối hợp với các cấp các ngành và địa phương kiểm tra điều kiện thi hành án bản án số 180/DSPT đã có hiệu lực, tiến hành thủ tục thi hành án theo quy định, báo cáo UBNDTP kết quả. Chủ tịch UBND huyện P có văn bản số 875/UBND chỉ đạo giao cho Chi cục trưởng THADS huyện P thực hiện theo chỉ đạo Công văn 39/UBND-NC ngày 05/01/2009 của UBND thành phố Hà Nội.
Dưới chỉ đạo của các đồng chí Lãnh đạo khác nhau đã được thay được thay đổi cho các Chấp hành viên khác nhau với rất nhiều nỗ lực tổ chức các buổi làm việc đơn phương, song phương, các văn bản đề nghị phối hợp nhưng việc tổ chức thi hành án vẫn không đạt kết quả, bản án vẫn chưa được thi hành, người được thi hành án chưa được nhận quyền lợi như mong muốn.

Ngày 01/11/2022 Chi cục THADS huyện P tiếp tục tổ chức làm việc để giải quyết dứt điểm vụ việc, UBND xã V vẫn không đồng tình cưỡng chế thi hành án và có quan điểm: Để đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương và đảm bảo quyền lợi cho các bên. Người phải thi hành án phải giao trả nhà đất cho người được Thi hành án thì cần được thanh toán giá trị phù hợp và tương xứng với giá trị tài sản phải giao, cơ quan Thi hành án cùng các ban ngành nghiên cứu giải quyết cho phù hợp để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
Thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Cục THADSTP Hà Nội, do bản án không tuyên rõ ông C có phải giao đất không hay chỉ giao nhà trên đất, Chi cục THADS huyện P đã tổ chức họp bàn tháo gỡ khó khăn trong tổ chức thi hành án. Hội nghị thống nhất kết luận: Chi cục Thi hành án dân sự huyện P có văn bản đề nghị tòa giải thích rõ bản án là giao tài sản trên đất, có phải giao quyền sử dụng đất không? Căn cứ theo quy định, Chi cục THADS huyện P đã có Công văn về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải thích rõ ngoài bàn giao tài sản trên đất có phải giao quyền sử dụng đất của thửa đất nêu trên không để có cơ sở tổ chức thi hành án.
Trong khi chờ Tòa án giải thích, từ ngày 05/5/2023 đến ngày 10/5/2024, Chấp hành viên thực hiện 12 buổi phối hợp chính quyền địa phương tiếp tục vận động gia đình ông C chấp hành nội dung bản án đồng thời tổ chức xác định lại hiện trạng tài sản trên thửa đất số 780/100 để làm rõ tài sản cũng như các nhân khẩu đang sinh sống trên đất phải giao nhưng việc vận động các bên đều không có kết quả. Kết quả xác minh cho thấy: trên đất có ngôi nhà 02 tầng chưa sơn, 01 mái bằng 01 tầng liền nhà 2 tầng (xây dựng năm 2014) do vợ chồng anh D (con trai ông C quản lý sử dụng) ông C hiện nay đã bị tai biến. Vợ ông C có ý kiến gia đình đồng ý trả lại tài sản cho ông M nhưng đề nghị ông M phải trả cho gia đình bà số tiền tài sản nhà đất theo giá thị trường hiện nay. Người được thi hành án không đồng ý với ý kiến của gia đình người phải thi hành án.
Sau nhiều lần có công văn đề nghị giải thích nội dung bản án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có văn bản giải thích ông N.V.C phải giao trả 03 gian nhà xây lợp ngói, 03 gian bếp chuồng lợn xây lợp ngói và các công trình phụ làm trên và quyền sử dụng diện tích 144m2 số thửa 780/100 tại xã V. X, huyện P, TP Hà Nội.
Trên cơ sở giải thích của Tòa án, Chấp hành viên tiếp tục làm việc với ông M đề nghị thỏa thuận thi hành án nhưng ông M không đồng ý thỏa thuận hỗ trợ thêm giá trị tài sản do trượt giá; ông chỉ không yêu cầu ông Chí trả lại nguyên trạng 03 gian nhà xây lợp ngói, 03 gian bếp chuồng lợn xây lợp ngói và các công trình phụ theo bản án tuyên đồng thời không yêu cầu phải phá dỡ công trình mới xây dựng và UBND V.X vẫn có quan điểm cần xem xét quyền lợi tương xứng với nghĩa vụ phải giao trả nhà đất của gia đình ông C.
Vụ việc được Chi cục THADS huyện P báo cáo Ban Chỉ đạo THADS huyện P. Ngày 22/5/2024, Ban Chỉ đạo THADS huyện P tổ chức họp bàn cưỡng chế thi hành án, tại cuộc họp cơ bản đều nhất trí tổ chức cưỡng chế nhưng còn có ý kiến khác nhau về thanh toán giá trị tài sản cho gia đình ông C và tính pháp lý của việc tổ chức thi hành bản án. Tuy nhiên, với sự quyết tâm bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã V.X và huyện P, đồng chí Trưởng BCĐTHADS huyện P đã kết luận giao Chi cục thi hành án huyện P xây dựng kế hoạch phối hợp với các Phòng, ban ngành để tổ chức cưỡng chế đảm bảo an toàn cho người và tài sản khi cưỡng chế, vướng mắc về thành phố Hà Nội hướng dẫn, chỉ đạo trước khi tổ chức cưỡng chế.
Để có cơ sở tiếp tục tổ chức thi hành, Chi cục tiếp tục có công văn số đề nghị Cục THADS thành phố Hà Nội hướng dẫn chỉ đạo giải quyết yêu cầu của gia đình ông C về thanh toán chênh lệch giá trị tài sản hoặc rút hồ sơ lên thi hành. Trên cơ sở hướng dẫn của Cục THADS thành phố Hà Nội, ngày 31/7/2024 Chi cục THADS huyện P tiếp tục tham mưu tổ chức cuộc họp Ban Chỉ đạo THADS huyện để bàn việc tổ chức cưỡng chế thi hành dứt điểm vụ việc. Các ý kiến thống nhất cưỡng chế giao đất cho ông M, còn công trình ông C tự ý xây trên đất phải trả ông M khi cưỡng chế phải phá dỡ để tránh xảy ra vụ việc tranh chấp khác. Đồng chí Trưởng Ban Chỉ đạo THADS đã kết luận giao Chi cục THADS huyện P chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức cưỡng chế thi hành án vào ngày 21 tháng 8 năm 2024. Đồng chí trưởng Ban Chỉ đạo THADS có ý kiến với hội nghị: Nếu Chi cục THADS huyện P vận động được gia đình ông C tự nguyện bàn giao tài sản cho người được thi hành án, Trưởng ban sẽ kêu gọi các doanh nghiệp hỗ trợ gia đình ông C số tiền 100.000.000 đ để khắc phục khó khăn sau khi thi hành bản án.
Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị cưỡng chế, lại có quan điểm khác nhau của cơ quan có thẩm quyền về việc căn cứ tổ chức thi hành án, yêu cầu Chi cục THADS huyện P tự kiểm tra tổ chức thi hành án đối với vụ việc về căn cứ trình tự và thẩm quyền giải quyết vụ việc. Để thận trọng trước khi tổ chức cưỡng chế, Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện P đã chỉ đạo Chấp hành viên tự rà soát lại toàn bộ trình tự thủ tục thi hành án của các Chấp hành viên trước đây và thẩm quyền giải quyết vụ việc. Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ thi hành án, Chi cục THADS huyện P đã có văn bản số đề nghị Cục THADS thành phố Hà Nội xác định thẩm quyền tổ chức thi hành án. Trên cơ sở kết luận tại cuộc họp Hội đồng Chấp hành viên, Cục THADS thành phố Hà Nội đã có văn bản xác định thẩm quyền tổ chức thi hành án thuộc về Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
Trên cơ sở đó, Chi cục Thi hành án dân sự huyện P đã khẩn trương tiến hành xây dựng Kế hoạch cưỡng chế gửi các cơ quan ban ngành chính quyền địa phương và thông báo thời gian tổ chức cưỡng chế vào ngày 28 tháng 11 năm 2024.
Trong quá trình ban hành Kế hoạch cưỡng chế, thông báo thời gian tổ chức cưỡng chế, Chi cục Thi hành án huyện P và các ban ngành chính quyền địa phương, Chấp hành viên phụ trách hồ sơ đã gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại từ phía đương sự người phải thi hành án đưa ra yêu cầu về giá trị bồi hoàn nếu trả đất và có đơn kiến nghị và tìm mọi lý do để cản trở việc thi hành án.
Chấp hành viên Bùi Thị Hiền, người trực tiếp tổ chức thi hành Bản án của Tòa án qua hai cấp xét xử và thi hành quyết định thi hành án và nguyên Chi cục Trưởng là đồng chí Ngô Thu Hường đã rất nhiều lần tiếp đương sự người phải thi hành án là gia đình ông C (gồm vợ - bà H và cháu nội ông C). Đại diện gia đình ông C đã đặt ra những câu hỏi rất phù hợp với đặc điểm vụ việc và thực tế đời thường, rất biết cách vận dụng pháp luật vì vậy bản thân Chấp hành viên đã không chỉ giải thích các quy định của pháp luật mà còn phải rất linh hoạt áp dụng những kỹ năng, nghệ thuật giao tiếp, tương tác tâm lý để giải thích, động viên cho bà H và cháu nội ông C để về tuyên truyền đối với gia đình hiểu thêm vì sao vụ việc kéo dài rất nhiều năm chưa thi hành được đồng thời cũng lồng ghép bày tỏ quan điểm cứng rắn, sự quyết tâm của Chấp hành viên, Cơ quan thi hành án và sự đồng lòng của các ngành trong việc kiên quyết tổ chức thi hành dứt điểm bản án.
Hành trình để giải quyết vụ việc kéo dài gần 30 năm kể từ khi có quyết định thi hành án và hơn 33 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật chắc chắn không hề đơn giản khi người phải thi hành án tìm mọi biện pháp, lý luận để chống đối, người được thi hành án có đơn thư gửi khắp nơi dẫn đến Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS và Lãnh đạo Cục THADS thành phố Hà Nội đã phải bố trí nhiều buổi tiếp công dân, ban hành nhiều văn bản trả lời đơn của đương sự.
Với sự quyết tâm cao, Chấp hành viên Bùi Thị Thu Hiền dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chi cục trưởng Ngô Thu Hường đã liên tục động viên người được thi hành án hỗ trợ cho người phải thi hành án, cả hai bên đương sự đều rất khó khăn bên phải thi hành án đang sinh sống trên đất là con trai, con dâu và cháu nội ông C, đối tượng con trai ông C đang hưởng chế độ chất độc da cam, hoàn cảnh cũng khó khăn chỉ có nhà 02 tầng tum xây dựng trên đất phải trả lại ông M. Nếu bị cưỡng chế ra khỏi nhà, gia đình con trai ông C không còn nơi ở nào khác cho nên cũng gửi nhiều đơn cầu cứu đến các cơ quan khác nhau. Bản thân ông M sau nhiều năm thuê nhà để theo đuổi vụ việc cũng gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế nên không có khả năng hỗ trợ cho gia đình ông C như nguyện vọng của bên phải thi hành án. Mọi khó khăn đổ dồn lên vai Chấp hành viên khi đứng giữa quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án với khó khăn thực tế của gia đình người phải thi hành án cũng như còn phải kiên trì vận động hành lang để tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Ban Chỉ đạo THADS huyện P, Viện KSND huyện và Công an huyện cũng như các ban ngành khác của huyện P; đặc biệt cần sự ủng hộ tuyệt đối của chính quyền xã V.X nơi diễn ra việc cưỡng chế.
Trong quá trình chuẩn bị tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên Hiền (được giao giải quyết vụ việc kể từ tháng 7/2023) không hề đơn độc trong quá trình thực thi công vụ mà luôn có sự chỉ đạo quyết liệt của đồng chí Chi cục Trưởng và sự quan tâm chỉ đạo của Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án huyện P (đồng chí Nguyễn Đình Sơn-Phó CTUBND Huyện P) và đặc biệt là sự ủng hộ tuyệt đối của Công an huyện P mà đồng chí Hoàng Hải (Phó trưởng Công an huyện P) là đầu mối chỉ huy.
Ngày 28/11/2024, theo chỉ đạo của Trưởng Ban Chỉ đạo THADS huyện, thực hiện Kế hoạch cưỡng chế của Chi cục THADS huyện P, Kế hoạch bảo vệ của Công an huyện P, đúng 7h 30 tất cả các thành phần có mặt tại hiện trường tổ chức cưỡng chế để thực hiện nhiệm vụ được phân công.
Là người đã có nhiều trải nghiệm tham gia các buổi cưỡng chế, nhưng tôi vẫn cảm thấy rất bất ngờ trước quy mô, tính nghiêm túc và trân trọng việc Công an huyện P, chính quyền xã V.X và các ban ngành liên quan phối hợp tham gia buổi tổ chức cưỡng chế. Để buổi cưỡng chế đạt kết quả, Công an huyện P phối hợp cùng Công an xã V.X đã tiếp cận nắm bắt hiện trường từ nhiều ngày trước khi tổ chức cưỡng chế. Tại buổi cưỡng chế, sau khi đưa ông C lên xe cứu thương đến nơi an toàn, trước sự phản đối rất dữ dội của nhân dân xung quanh đặc biệt là các thân nhân của gia đình ông C, lực lượng bảo vệ cưỡng chế nhanh chóng phân hóa đối tượng, phân vùng quanh khu vực cưỡng chế để xử lý đúng quy định do đó đã nhanh chóng kiểm soát được tình hình an ninh trật tự, đảm bảo an toàn cháy nổ cho lực lượng cưỡng chế.
Trước sự kiên quyết, tinh nhuệ của lực lượng bảo vệ cưỡng chế, sau khoảng 35 phút kể từ lúc bắt đầu buổi cưỡng chế, tình hình trật tự tại nơi cưỡng chế đã được kiểm soát, Chấp hành viên đã chỉ đạo cho cắt điện, chỉ huy các vị trí công tác xác định mốc giới diện tích đất phải giao, đồng thời xác định các công trình xây dựng phải phá dỡ, nhanh chóng có phương án kiểm đếm vận chuyển tài sản ra khỏi khu vực đất phải bàn giao và sẵn sàng cho việc tổ chức phá dỡ các công trình xây dựng phát sinh sau khi có bản án.
Tuy nhiên, để thực hiện hết khối lượng công việc đã được xây dựng trong Kế hoạch, thời gian tổ chức cưỡng chế theo có thể phải kéo dài đến trưa ngày 29/11/2024 và rất tốn kém chi phí và hệ lụy của việc phải vận chuyển tài sản ra khỏi nhà để bảo quản, xử lý theo quy định có thể kéo dài nhiều tháng và có thể tiếp tục phát sinh rất nhiều đơn thư từ phía bên phải thi hành án. Bài toán đặt ra cho ê kíp chỉ huy của chúng tôi là làm sao cho việc tổ chức cưỡng chế thi hành án được nhanh, gọn, hiệu quả, đúng pháp luật và ít tổn thất nhất cho các bên đương sự.
Một ý tưởng táo bạo lóe lên trong chúng tôi đó là: vận động vợ ông C và con dâu ông C nhận bảo quản các tài sản phải chuyển ra khỏi khu vực cưỡng chế trước khi tổ chức phá dỡ các công trình xây dựng. Tôi và Chấp hành viên Thu Hiền đã tách vợ ông C, con dâu ông C ra để tác động tâm lý trên nguyên tắc vừa động viên gia đình chấp hành pháp luật, vừa phân tích thiệt hại về kinh tế khi để Cơ quan thi hành án kiểm đếm, bảo quản và xử lý các tài sản của gia đình theo quy định và cam kết sẽ hỗ trợ đóng gói, bốc dỡ, vận chuyển các tài sản đến nơi gia đình mong muốn.
Trước sự tận tâm, mềm dẻo và linh hoạt của cán bộ thi hành án, bà H và con dâu đã đồng ý nhận bảo quản tài sản của gia đình. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm khi hoàn thành được 30 % công việc phải làm, khẩn trương chỉ đạo các vị trí công tác lập biên bản ghi nhận ý kiến của gia đình để hoàn thiện thủ tục, đồng thời chỉ đạo việc đóng gói, bảo quản, vận chuyển tài sản đảm bảo an toàn, nhanh gọn.
Trong lúc chờ vận chuyển tài sản, cá nhân tôi nhìn ngắm ngôi nhà 2 tầng sắp bị phá dỡ và thấy ngậm ngùi rằng, ngôi nhà kia là kết tinh bao công sức của gia đình con ông C, mà bản thân ông M lại không có khả năng xây lại ngay ngôi nhà khác trên đất để ở, mặt khác việc phá dỡ và lựa chọn chỗ đổ xả thải rất phức tạp tốn kém sức người, sức của. Trong tâm trí tôi lại lóe lên một ý nghĩ táo bạo: hòa giải để gia đình ông C để lại công trình xây dựng cho ông M sử dụng và M sẽ thanh toán một số tiền nhất định để gia đình con ông C tạo lập nơi ở mới.
Tôi, Chi cục trưởng, đồng chí P.V.B (Phó trưởng phòng nghiệp vụ) và Chấp hành viên Thu Hiền đã hội ý nhanh về ý tưởng và thống nhất phân công nhau thực hiện công tác vận động các bên đương sự thỏa thuận nội dung công trình xây dựng trên đất. Chị Hường Chi cục trưởng, Chấp hành viên Thu Hiền tiếp cận bà H và con dâu ông C để tiếp tục phân tích thiệt hơn về việc không nên để ngôi nhà bị phá dỡ vì như vậy vừa phải chịu chi phí phá dỡ vừa rất lãng phí, nên chăng thực hiện theo hướng để lại cho ông M sử dụng và chúng tôi sẽ vận động ông M sẽ thanh toán một phần giá trị công sức xây dựng ngôi nhà cho gia đình ông Chí.
Khi thực hiện vận động vợ và con dâu ông C nội dung này, chúng tôi không hy vọng nhiều vì mâu thuẫn của hai gia đình không chỉ có tính sâu sắc mà còn âm ỷ, kéo dài nhiều năm, nên cái tôi của các bên là rất lớn. Tuy nhiên, khi nghe Tổ công tác vận động bà H và con dâu đã ngước mắt lên nhìn ngôi nhà của gia đình mình, nơi họ đã từng sinh sống nhiều năm, mỗi bậc thềm, cánh cửa đều là mồ hôi công sức của người lao động cực nhọc. Họ xin chúng tôi mười lăm phút suy nghĩ. Trong 15 phút ấy, chúng tôi cố gắng cận kề bên họ, không có các cá nhân không có thiện chí tiếp cận thành viên gia đình người phải thi hành án để xúi giục. Trước sự nhiệt tình, thậm chí là ‘tiến thoái lưỡng nan” trước hoàn cảnh rất khó khăn, vợ ông C và con dâu đã khóc và nói với chúng tôi rằng “thôi chúng em trăm sự nhờ các bác, đằng nào cái nhà theo quy định cũng phải phá dỡ, các bác động viên ông M hỗ trợ cho chúng em số tiền cho chúng em đỡ khó khăn”. Chúng tôi mạnh dạn hỏi lại “thế số tiền bao nhiêu thì chị thấy hợp lý”, Chị con dâu ông C nói rằng “chúng em rất khó khăn khổ sở mới xây được ngôi nhà này, nên các bác xin cho em được càng nhiều càng tốt”.
Khi tiếp nhận thông tin này, chúng tôi rất xúc động và nghẹn ngào bởi chúng tôi đã nhìn thấy trong trái tim của những người cùng cực đang chấp hành bản án vẫn còn ở đó sự thiện lương, ấm áp. Và chúng tôi tìm cách tiếp cận vận động ông M.
Do Ông M xa quê lâu ngày về đòi lại đất nên có phần dư luận quần chúng nhân dân tại buổi cưỡng chế không ủng hộ, đồng tình, để tránh phiền hà, ông M đã phải lánh tạm ra khu vực cách nơi cưỡng chế 500m. Chúng tôi mời ông về khu vực cưỡng chế, trực tiếp Trưởng phòng và Phó phòng phòng NV&TCTHA nói chuyện với ông M. Đồng chí V. B (là người ông M từng rất mong muốn Cục THADS thành phố Hà Nội rút vụ việc lên phân công thi hành cho ông) đã nêu vấn đề động viên ông M hỗ trợ cho gia đình ông C một khoản tiền để bù đắp lại giá trị công trình xây dựng trên đất cho gia đình ông C. Sau khi tiếp nhận thông tin từ đồng chí V.B, tôi quan sát kỹ từng nét mặt, biểu cảm của ông M để đoán định tâm lý của ông. Trên đôi mắt, gương mặt mệt mỏi của người hơn 30 năm đi tìm công lý ấy, tôi nhìn thấy sự mệt mỏi về tinh thần, sự khắc khổ về thể chất lại thoáng toát lên chút ngần ngừ, thái độ lưỡng lự khó nói. Tôi quyết định một lần nữa thuyết phục ông cân nhắc về việc thanh toán một số tiền nhất định để được sử dụng các công trình trên đất. Sau hồi suy nghĩ, ông M đồng ý hỗ trợ một số tiền nhưng chia sẻ thật là hiện tại không có tiền.
Tiếp nhận thông tin này, tôi hội ý nhanh với đồng chí V.B để xác định định hướng đi, hai anh em thống nhất dự kiến một mức để hai bên cùng có thể chấp nhận được đó là từ 300 -400 triệu đồng (bằng khoảng 50 % giá trị ngôi nhà) và tiếp tục chia làm hai nhánh để tác động. Sau nhiều vòng trao đi đổi lại thông tin giữa hai bên thì mức tiền gia đình bà H mong muốn được nhận là 300.000.000 đ. Có được điểm chúng trong thỏa thuận của vụ việc này đã là rất khó, nhưng với ông M lấy đâu ra 300.000.000 đ để có thể bàn giao ngay cho gia đình bà H trong buổi sáng ngày 28/11/2024.
Chúng tôi lại gặp riêng ông M, khơi gợi các nguồn tự lực của gia đình, ông M cho biết chỉ có thể tự huy động được số tiền 200.000.000 đ. Chúng tôi chợt nghĩ ngay đến lời hứa của đồng chí Trưởng Ban Chỉ đạo THADS huyện P và đề nghị đồng chí Thu Hường điện thoại báo cáo xin ý kiến. Như đúng lời hứa, đồng chí đã huy động các doanh nghiệp hỗ trợ 100.000.000 đ cho gia đình ông C. Tuy nhiên, bài toán đặt ra là làm sao để ông M có ngay 100.000.000 đ phần các con hỗ trợ để đưa cho gia đình ông C. Chúng tôi lại nhìn nhau tìm hướng giải quyết vấn đề mấu chốt này.
Trong vòng 40 phút, chúng tôi chia nhỏ các vị trí công tác, một tổ lập Biên bản thỏa thuận về việc để lại công trình xây dựng và số tiền hỗ trợ, một tổ công tác đi nhận tiền hỗ trợ, UBND huyện P cũng đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn thực hiện các quy trình theo quy định để hỗ trợ chi phí cưỡng chế cho gia đình ông C.
So với Kế hoạch cưỡng chế ban đầu, các nội dung của buổi cưỡng chế hoàn toàn diễn ra khác với kịch bản ban đầu, các tình huống phức tạp dự kiến phát sinh đều đã có biện pháp dự liệu để xử lý nhưng đã không diễn ra, đó cũng là điều hết sức bình thường trong cưỡng chế Thi hành án dân sự. Nhưng trong chúng tôi, cũng chưa ai dám mong muốn một kết cục tốt đẹp như vậy cho các bên đương sự, cho cơ quan nhà nước khi thực thi công vụ và cho sự bình yên của một vùng quê ngoại thành Hà Nội.
Vụ việc đã khép lại hơn 1 năm, cảm xúc hạnh phúc như vẫn còn nguyên trong chúng tôi những người công chức trong cơ quan Thi hành án huyện P và các cơ quan ban ngành thực hiện phối hợp bảo vệ buổi cưỡng chế thành công tốt đẹp. Có thể với các bên đương sự, đâu đó chưa thật sự thỏa mãn với lợi ích của mình. Nhưng chúng tôi biết rằng, với một vụ việc hơn 30 năm chưa thi hành xong thì đấy là một kết quả không thể tốt đẹp hơn được nữa. Và để có kết quả đó thật sự đáng trân trọng cảm ơn sự quyết liệt chỉ đạo của đồng chí Ngô Thu Hường - nguyên Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện P đến nay chị đã nghỉ hưởng lương hưu theo NĐ 178/2024/NĐ-CP của Chính phủ, thật sự biết ơn và trân trọng sự trách nhiệm, tận tình, ủng hộ tuyệt đối của Ban CĐTHADS huyện P mà đứng đầu là đồng chí Nguyễn Đình Sơn- Nguyên Chủ tịch UBND huyện, Trưởng ban CĐTHADS huyện P nay đang là Bí thư Đảng ủy xã Hát Môn thành phố Hà Nội; mặt khác chúng tôi cũng rất ấn tượng với Kế hoạch bảo vệ rất bài bản, chặt chẽ, kỷ luật, toàn diện và chuyên nghiệp dưới sự chỉ huy của đồng chí Hoàng Hải - Phó Trưởng công an huyện P; chúng tôi thật sự biết ơn và tiếp tục mong muốn nhận được sự phối hợp chặt chẽ của Viện KSND khu vực 8, UBND và các ban ngành đã tham gia trong buổi cưỡng chế giúp chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ
Buổi cưỡng chế kết thúc trong niềm vui niềm hạnh phúc của Chấp hành viên qua bao ngày tháng trăn trở mất ăn mất ngủ vì tình, vì lý vì lương tâm của một người cán bộ Đảng viên. Với Chấp hành viên, không có giải thưởng nào giá trị bằng sự hài lòng, đồng thuận của người dân, sự an toàn tuyệt đối trong quá trình tổ chức cưỡng chế, đó chính là sức mạnh vô biên giúp chúng tôi thêm yêu và gắn bó với nghề.