Cuộc đời dâu bể của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm

(PLVN) - Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm được đánh giá là danh nhân văn hóa thời Lê trong lịch sử Việt Nam. Bà nổi tiếng về văn thơ, thông minh từ nhỏ. Dù là phận nữ nhi, nhưng bà cứng rắn, cương quyết, có tinh thần tự lập cao. Bà được người đời biết nhiều qua bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc (nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn). Dù tài năng, xinh đẹp, nhưng cuộc đời nữ sĩ Đoàn Thị Điểm gặp nhiều “bão táp phong ba”.
Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (Ảnh internet). Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (Ảnh internet).

Gánh vác cả gia đình

Đoàn Thị Điểm (1705-1749), hiệu Hồng Hà, là nữ sĩ Việt Nam thời Lê trung hưng, nổi tiếng khắp kinh thành Thăng Long xưa với tài sắc vẹn toàn. Trong tư liệu của Ths.Nguyễn Hồng Chiến (là di duệ của tiến sĩ Nguyễn Kiều), Hồng Hà Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm có biệt hiệu Ban Tang, quê làng Hiến Phạm, xã Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Bà vốn là con gái ông hương cống Đoàn Doãn Nghi, mẹ bà là người họ Vũ và là vợ hai ông Nghi, nhà ở phường Hà Khẩu, Thăng Long (phố Hàng Bạc bây giờ).

Ông bà Nghi còn sinh một trai là Đoàn Doãn Luân (1703), tức là anh trai và hơn Đoàn Thị Điểm 2 tuổi. Từ nhỏ, anh em bà đã theo mẹ về ở với ông bà ngoại là quan Thái lĩnh bá và được dạy dỗ chu đáo, thông Tứ thư, Ngũ kinh... Năm 6 tuổi, Đoàn Thị Điểm nổi tiếng gần xa về tài học giỏi, thông minh.

Năm bà 16 tuổi, quan Thượng thư Lê Anh Tuấn mến mộ muốn xin làm con nuôi, để tiến cử vào cung chúa Trịnh, nhưng bà nhất định từ chối. Về sau, cha mất, gia đình phải chuyển về quê nhà, được ít lâu thì dời về làng Võ Ngai (Vô Ngại), huyện Đường Hào (nay là Mỹ Hào, Hưng Yên), tại đây Đoàn Thị Điểm cùng anh trai hành nghề dạy học. 

Anh trai mất sớm, chị dâu lại tàn tật, thời gian này, bà kiêm luôn nghề bốc thuốc, gần như một tay nuôi sống cả gia đình – gồm 2 cháu nhỏ, mẹ và chị dâu. Bà được nhiều người đến cầu hôn nhưng đều từ chối.

Cuộc đời dâu bể của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm ảnh 1
Bìa cuốn diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc (ảnh internet).  

Theo nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh, tại Vô Ngại, cuộc sống gia đình bà cũng không ở được. Khoảng  giữa thế kỷ XVIII, những cuộc nổi dậy của nông dân xảy ra khiến vùng Hải Đông không còn cảnh yên bình, nhiều làng xóm bị binh lửa tàn phá. Đoàn Thị Điểm lại đưa cả gia đình tới nhà một người học trò tại xã Chương Dương, huyện Thược Phúc (nay thuộc Thường Tín, Hà Nội) để lánh nạn và sinh sống. Theo Hoàng Xuân Hãn, lúc này bà mới chính thức mở trường dạy học. 

Nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh cho rằng, Đoàn Thị Điểm không những nổi tiếng về tài văn thơ, mà còn giỏi đối đáp. Xung quanh bà có nhiều giai thoại khẳng định tài năng áp đảo các bậc anh tuấn trong giới nho sinh kẻ sĩ. Cũng có nhiều câu đối được ghi là của bà trong các cuộc đối đáp với Trạng Quỳnh, sứ Tàu, Nhữ Đình Toản... Những chuyện ấy dù có bao nhiêu phần trăm sự thật thì cũng chứng tỏ lòng ngưỡng mộ của thế nhân đối với bà.

Đoàn Thị Điểm được Nguyễn Thị Băng Thanh đánh giá là một người con gái có bản lĩnh, một “gia trưởng” hoàn hảo, một nữ sĩ tài hoa, gồm đủ công dung ngôn hạnh nhưng cũng ngầm mang ít nhiều tính cách trượng phu có tầm cỡ về tư tưởng và dám “phá cách”. Thế nhưng, có thể chính vì sự hoàn hảo và xuất chúng đó mà đường tình duyên của nữ sĩ muộn màng.

Không phải bà thiếu các bậc tài danh ngấp nghé, nhưng dường như cảnh nhà cũng làm bà lỡ làng năm tháng. Vào tuổi thanh xuân, tuy ở trong cửa nhà quyền quý  nhưng con đường gia thất lại  chỉ có thể hướng tới cung nhà chúa, với cái cảnh “chiếc én ba nghìn” biết chen cành nào trên cây cù mộc? Bản lĩnh và tâm hồn nữ sĩ khiến bà không thể chấp nhận được sự sắp đặt ấy. Sau này, về gần kinh thành, với hoàn cảnh đơn hàn, bà càng được để ý. Nhưng nữ sĩ đã liệu lời từ chối tất cả và lẩn tránh, chấp nhận cuộc sống cô đơn để toàn tâm toàn ý phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy các cháu.

Đoán được quan lộ cho chồng, biết trước mình sắp mất

Nhiều tài liệu cho biết, mặc dù hết lần này đến lần khác “khất” không lấy chồng, nhưng rồi, Đoàn Thị Điểm đã “cập bến” bên tiến sĩ Nguyễn Kiều (1695 – 1752, sinh tại làng Phú Xá, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nộ). Theo tài liệu từ nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Kiều nổi tiếng đương thời là người giỏi văn thơ, năm 1715, đỗ tiến sĩ, sau đó được bổ dụng và đến năm 1740 được trao chức Quyền thự thiêm đô Ngự sử, một chức quan cần có bản lĩnh vững vàng và chính trực liêm khiết.

Trước khi được Đoàn Thị Điểm chấp nhận về làm vợ, Nguyễn Kiều đã có hai người vợ trước, nhưng đều mất sớm. Mối tình giữa Nguyễn Kiều và Đoàn Thị Điểm được coi là mối tình đẹp, nức tiếng Thăng Long xưa, năm đó, Đoàn Thị Điểm đã 37 tuổi. Nguyễn Kiều phải viết mấy bức thư với lời lẽ khẩn thiết, thê lương, rồi những lời khuyên bàn từ người thân, Đoàn Thị Điểm mới nhận lời. Nguyễn Kiều đã có thơ sau khi lấy được Đoàn Thị Điểm: “Nhân duyên gặp gỡ nhất trần gian/ Cả cuộc đời ta được phúc ban/Ai bảo khát khao tiên nữ nữa/ Nàng tiên đã xuống cõi nhân hoàn”.

Trong tư liệu từ di duệ Nguyễn Kiều, cho biết, cưới nhau được hơn một tháng, Nguyễn Kiều phải lên đường đi sứ phương Bắc, bà ở nhà coi sóc gia trang, xem con chồng như con đẻ, dạy dỗ thay làm cha, làm thầy. Nào ngờ cuộc đi sứ kéo dài đến ba năm. Nguyễn Kiều về đến Nam Ninh nhưng không qua biên giới được vì Lạng Sơn có loạn phải chờ đợi dẹp xong loạn mới về. Trong ba năm chờ chồng, Đoàn Thị Điểm sống chẳng khác nào người “chinh phụ”. Có lẽ chính trong thời gian này (1742 – 1745), bà đã dịch ra quốc âm tác phẩm Chinh phụ ngâm nổi tiếng của Đặng Trần Côn.

Năm 1746, ba năm chờ chồng dài đằng đẵng vừa kết thúc, bà lại phải khăn gói, từ biệt mẹ già cháu nhỏ để sang Nghệ An, nơi Nguyễn Kiều mới được bổ nhiệm.

Tư liệu từ di duệ Nguyễn Kiều cũng dẫn lại sách Đoàn Thị Thực lục còn chép lời đoán của bà về vận mệnh chồng, cũng đoán trước về việc sắp rời bỏ dương thế của mình: “Mùa hè năm Mậu Thìn (1748), một ngày kia xong việc công, ông vào tư thất, nói chuyện cùng bà và phê bình thơ, tra từ điển văn cũ định xếp thành thi văn tập của đôi vợ chồng. Thình lình, rèm tung lên, gió cuốn, bui bay. Bà ngồi lặng, ngẫm nghĩ, bấm đốt tay mà suy tính. Rồi bà bảo ông rằng: “Bắc khuyết vân bình chiêu thiếp thụy, Nam thù xuân vũ trước quân ân”, được dịch, “Cửa Bắc xe mây điềm thiếp rõ, Bờ Nam mưa ấm tỏ ơn vua”.

Ý Đoàn Thị Điểm muốn nói rằng luồng gió vừa qua là điềm bà sắp mất, và Nguyễn Kiều sắp được thăng chức và dời vào miền Nam. Nguyễn Kiều hỏi Đoàn Thị Điểm, hỏi đi hỏi lại nhưng bà không giảng thêm gì nữa. Chưa qua dăm ba ngày sau, thì quá nhiên ông được lệnh vào coi việc trấn an Nghệ An. 

Ông bảo bà cùng đi. Bà lấy cớ bận việc nhà, xin ở lại, giả nói rằng xin sẽ đi sau. Nhưng ông cố nài, bất dắc dĩ, bà phải nghe. Hai người xuống thuyền trẩy vào xứ Nghệ. Chắc là đêm lạnh, bà ngủ quên không đắp chăn, nên cảm hàn. Bà liền đau, cố gắng gượng ăn uống, nhưng bệnh tình càng ngày càng nặng. Năm sáu ngày sau, thuyền đến trấn Nghệ An, ấy là vào ngày 4/8. Bệnh đã nguy kịch, chồng chạy khắp nơi, cầu cúng hết đền chùa, nhưng không công hiệu, đến ngày 9/11/1748 (âm lịch), Đoàn Thị Điểm qua đời, hưởng dương 44 tuổi.

Ths.Nguyễn Hồng Chiến đánh giá: Sự kính yêu của người đời sau với Đoàn Thị Điểm không chỉ vì văn tài thi văn điêu luyện, đặc sắc, còn vì bà có những phẩm chất cao quý, đức hạnh tốt đẹp xứng đáng là mẫu phụ nữ tiêu biểu của xã hội Việt Nam ở mọi thời đại. 

Đoàn Vũ – Lâm Anh
Cùng chuyên mục

Đọc thêm

Khám phá những ngôi chùa kỳ lạ ở Thái Lan (Kỳ 9): Tượng Phật khổng lồ trên vách núi và vị thánh sống của nhân dân Thái Lan

Tranh tượng Phật Thích Ca Mâu Ni tạc vào vách đá ở Thái Lan.
(PLVN) - Năm 1996, núi đá Khao Chi Chan được xẻ đôi để tạc tượng Phật Thích Ca khổng lồ dát vàng ngồi thiền định. Với ý nghĩa “tỏa sáng rực rỡ và soi sáng cho tất cả”, tượng Phật là công trình tâm linh độc đáo kỷ niệm 50 năm ngày Quốc vương Bhumibol Adulyadej lên ngôi.

Trúc Lâm tự - Linh thiêng nơi an nghỉ của đức Thánh Côn Nhạc Đại vương

Lăng mộ ngài Côn Nhạc Đại vương trong khuôn viên chùa Trúc Lâm - Hạ Hòa,
(PLVN) - Tọa lạc tại xã Ấm Hạ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, chùa Trúc Lâm là một điểm đến tâm linh được nhân dân xa gần thành tâm chiêm bái. Đây cũng là nơi an nghỉ của ngài Côn Nhạc Đại vương – một bậc anh hùng hào kiệt thời Hùng Vương có công với nước, khi mất được nhân dân tôn vinh như một vị thánh.

Biết ơn vô thường

Biết ơn vô thường
(PLVN) - Trong cuộc sống này, bởi có vô thường mà nỗi buồn hôm nay có thể ngày mai sẽ chuyển hóa thành bản lĩnh, thành hiểu biết, thành yêu thương. Vô thường là để ta ý thức về cuộc sống hiện tại một cách sâu sắc hơn...

Chuyện của trà (Kỳ 2): Thời cổ đại, Trung Quốc không dùng trà để giải khát

Theo nghiên cứu khoa học, trà có nhiều tác dụng tốt tới trí não.
(PLVN) - Ngày nay, hầu hết mọi người chỉ biết đến trà là một loại thức uống, mục đích dùng để giải khát. Nhưng ngược dòng lịch sử về cách đây 18 thế kỷ, tại Trung Quốc trà ban đầu được sử dụng như một vị thuốc chữa bệnh, vị đắng của trà từng khiến nhiều người ốm phải dùng các loại gia vị khác nhau để có thể uống.

Ngân vang hào khí Bạch Đằng Giang

Cổng vào Khu di tích lịch sử Bạch Đằng Giang tại thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng.
(PLVN) - Khu di tích lịch sử Bạch Đằng Giang là quần thể kiến trúc tâm linh mang giá trị lịch sử, văn hóa gắn liền với những trận thủy chiến bên dòng sông Bạch Đằng lưu truyển sử sách với những chiến công oanh liệt của Đức vương Ngô Quyền, vua Lê Đại Hành, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

Ký ức Việt Nam (kỳ 12): Chợ làng

Một phiên chợ làng (ảnh tư liệu).
(PLVN) - Chợ làng là một thiết chế công đặc thù của nền văn hóa kinh tế tập thể vô danh. Cùng với đình, chùa thì chợ là không gian di động và là một trong những không gian công quan trọng nhất của nền văn hóa đám đông làng xã Việt Nam cổ xưa. 

Bụt trong con sinh chưa?

Bụt trong con sinh chưa?
(PLVN) - Tháng Tư là mùa Bụt sinh, mùa sen nở. Trong tâm mỗi chúng ta đều có một đức Phật. Cũng giống như trong một cái đầm hay một cái ao, nếu biết gieo vào và ươm mầm, nhất định ta sẽ trồng được những đóa sen thơm.

Kết nối niềm hạnh phúc

Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm (ảnh minh họa).
(PLVN) - Khoa học đã chứng minh rằng: “Khi một cá nhân hạnh phúc hoặc khi mang đến niềm vui cho người khác, niềm vui sẽ quay trở lại bản thân ta và đến cả nhiều người khác nữa. Nó có thể lan tỏa từ người này sang người khác, kể cả những người không quen biết”.

Nhà thơ Du Phong: Đừng bao giờ để tình yêu cũ kỹ

 Nhà thơ Du Phong (Ảnh internet).
(PLVN) - Viết về thơ tình, hầu như nhà thơ nào cũng có viết. Nhưng để tạo ra được dấu ấn riêng, được nhiều người thuộc, nhắc nhớ thì ít người làm được như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính. Đó là những nhà thơ đã khuấy động một thời trên văn đàn Việt Nam. Hiện nay, tiếp nối dòng chảy thơ tình, có nhà thơ Du Phong.

Truyền thuyết về hộ tướng của cá Ông ở lăng ông Thủy Tướng Cần Giờ

Lăng Ông Thủy Tướng ở Cần Giờ với tuổi đời hơn 200 năm.
(PLVN) - Cư dân vạn chài Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) tin rằng, cá Ông là một loài vật linh thiêng, luôn cứu giúp cho những con thuyền gặp phải sóng to gió lớn, giúp dân chài lưới tai qua, nạn khỏi. Điều đặc biệt ở đây là, họ còn có quan niệm về sự tồn tại của các loài vật được cho là hộ vệ cá Ông.

Nhà đầu tư Nhật Bản tin tưởng Việt Nam vẫn là “bến đỗ” an toàn

Nhà đầu tư Nhật Bản tin tưởng Việt Nam vẫn là “bến đỗ” an toàn
(PLVN) - Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) vừa công bố báo cáo khảo sát từ 4.600 doanh nghiệp (DN) Nhật hoạt động tại gần 20 thị trường châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có 700 DN ở Việt Nam. Kết quả khảo sát cho thấy tuy nền kinh tế có một năm bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi bùng phát dịch Covid-19 đợt 4, song tỷ lệ DN Nhật tại Việt Nam muốn mở rộng đầu tư kinh doanh vượt xa đến 10 điểm so với các nước trong khối ASEAN .

Cách chữa bệnh theo "tám kinh, tám vĩ" của người xưa

Thời nào, thầy thuốc cũng rất quan trọng với con người. (Ảnh minh hoạ, nguồn internet).
(PLVN) - Nếu như ngày nay chúng ta coi "lương y như từ mẫu", "thầy thuốc như mẹ hiền" thì trong "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ, người thời xưa tôn kính các bậc danh y cũng như vậy. Bởi thời nào cũng thế, các bậc danh y, lương y, thần y hành nghề là để cứu người...

Bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam

Bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam
(PLVN) - Năm 1821, sau khi nhậm chức quan nhỏ ở Quốc Tử Giám (Huế), Phan Huy Chú dâng cuốn “Lịch triều hiến chương loại chí” lên vua Minh Mạng. Vua khen “soạn khéo lắm” rồi ban thưởng 30 lạng bạc, 30 thỏi mực và 30 cái bút.