“Cửa Rừng”, những suy tư, trải nghiệm cuộc đời của Đào Tư Vấn
Nguyễn Long Khánh
Sau “Ký ức tháng ba” xuất hiện trên thi đàn năm 2001, bốn năm sau Đào Tư Vấn lại có “Cửa Rừng” với sáu mươi lăm bài thơ nhiều thể loại, Đào Tư Vấn mở “Cửa rừng” để chúng ta đi vào thế giới nội tâm của anh...
Sinh ra từ đất Hương Sơn (Hà Tĩnh) bên dòng Ngàn Phố xanh trong, dưới nắng hè sau lũ tháng ba cuồng nộ, nơi gió Lào cát trắng khắc nghiệt sinh ra không ít bậc ký tài cho nước non văn hiến, Đào Tư Vấn để lại đằng sau những kỷ niệm tuổi học trò và người thân, sớm trở thành người lính cầm súng ở chiến trường, rồi là sinh viên trên giảng đường đại học... Anh dừng lại Hải Phòng với nghề kế toán, sống chật vật với vợ và năm con ở quê mới thành phố Biển mà vẫn đau đáu nỗi nhớ về quê cha nắng lửa, mưa nguồn.
Sau nhiều biến cố của cuộc đời, ngày trở lại quê hương, anh thấy giờ đã khác. Mảnh vườn nhà “Mồ hôi chẳng tính ngày...” qua bao thế hệ chuyền tay chất đầy kỷ niệm, chỉ còn lại lưa thưa bóng dáng ngày xưa:
“... Vườn nhà sót gốc này đây
Cái thời tán lá che mây chẳng còn
(Ký ức tháng ba)
Gốc mít vườn nhà chịu những nhát chặt nhựa bầm khô làm anh xót xa.., lạ thay gốc mít già cằn cỗi ấy, lại vớt vát chút sinh lực muộn mằn cho trái chín giữa ngày gió cha anh:
“Hai tay rót nước mời cha
Chùm trong hương quả cháy nhòa mặt con!
(Ký ức tháng ba)
Anh day dứt nhớ thương về quê hương trước hết là hình ảnh cha mẹ và những người thân trong quá khứ dàn trải, xót đau trong giông bão cuộc đời:
Mẹ đi
Khoác mảnh nâu sòng chuột cắn
Chân đất đầu trần
Trán vã mồ hôi...
Cha đi
Buổi lạ mùa
Cúng cơm
Củ khoai lăn tròn trên là.
(Ký ức tháng ba)
Trong “Cửa rừng” ta gặp lại những chân dung chấm phá về “Cô tôi”, “Chị tôi”, “Em tôi” với bao buồn tủi số phận từng người... Những người ruột thịt thân yêu của anh cứ lần lượt vơi dần: nhận tin em trai mất, anh kêu lên thảng thốt:
... Bàng hoàng bốn cháu không nơi tựa
Hai phía mồ côi! ối mẹ ơi!
(Tin nhà)
Còn đau đớn nào hơn? Về thăm cô ngày mất, anh không kịp gặp mặt, chỉ còn lại ngôi mộ ở nghĩa trang làng heo hút:
Cỏ gừng lay nắng nghĩa trang
Nén nhang rớm đỏ lá vàng rơi... rơi
(Cô tôi)
Nén nhang rớm đỏ hay lòng anh rớm máu? Lạnh đến ghê người. Từ “Cửa rừng” quê hương nơi với “củi cành, than hoa, măng giang, nón lá... lấm láp tuổi học trò”. Anh trở thành kẻ tha hương với nỗi niềm “sương bạt đường xa...”. Anh là ngọn sóng chìm trong biển đau nỗi nhớ... nhưng trái tim vẫn nóng ấm tình quê, da diết tình đời!
Hôm nay và những ngày đang tới ở nơi quê mới cưa vơi nỗi nhọc nhằn, mỗi lần thay quyển lịch nhắc tới tuổi già trong anh đâu đã bình yên mà đầy ưu tu thấp thỏm:
Thay tuyển lịch
Thấp thỏm ngày thu hái
Ước bình yên
Chuyển nối những mùa lành.
(Thay quyền lịch)
Anh vẫn nặng lòng với từng trang viết đầy khắc khoải, trách nhiệm với cuộc đời:
Nỗi đau nào cũng dễ bị nhân lên
Xin trả lại quán đời
Những bến nhớ...
Dòng quên...
(Tiễn đưa mình)
Là người bản lĩnh, từng trái, chiêm nghiệm biết kiện chữ, kiện lời nên thơ anh có cấu tứ chặt chẽ, từng chữ, từng câu được chọn lựa kỹ càng, chất “đồ NGhệ” trong anh khi bỡn cợt, hóm hỉnh (Sầu không riêng), khi ý ở ngoài lời (Con tằm, Lời chim)... tự nhiên, chân thậ như con người anh: không khuyếch đại phô trương, không vờ yêu vờ ghét lấy lòng và chẳng bao giờ loanh quanh, lươn lẹo...