Cụ thể hoá mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội từng năm

Tại mục 3, Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 10 của Đảng nêu rõ : Kết hợp chặt chẽ các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trên cả nước cũng như ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn bó hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ.

Đây là mục tiêu cao cả của loài người: bởi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội chính là làm cho dân trí được nâng cao, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên, không còn cảnh nghèo đói, nhân dân được hưởng thụ những thành quản của sự phát triển và có nghĩa vụ với đất nước.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, đưa nước ta ra khỏi tình trạng thấp kém, trở thành nước có nền công nghiệp hiện đại, sánh vai với các nước trên thế giới và trong khu vực, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, chuyển dịch cơ cấu sản xuất dẫn đến chuyển dịch cơ cấu lao động, nhất là ở khu vực nông nghiệp nông thôn. Theo đó một bộ phấn nông dân mất việc làm do không còn tư liệu sản xuất, thất nghiệp; khoảng cách giàu nghèo, tệ nạn xã hội và các tiêu cực khác nảy sinh. Đây là những vấn đề bức xúc không thể xem thường.

Hội nghị quốc tề năm 1995 tại Co-pen-ha-ghen (Đan Mạch) với 199 nước tham gia, trong đó có 118 nguyên thủ quốc gia tham dự. Hội nghị chủ yếu bàn về giải quyết những vấn đề xã hội như: xóa đói giảm nghèo, thất nghiệp, các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, hòa nhập cộng đồng cho các đối tượng khó khăn, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển. Hội nghị đã đi đến kết luận quan trọng: Bất ký sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia nào cũng không mang lại hạnh phúc cho nhân dân, nếu không đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội. Hay nói khác đi, bản thân sự tăng trưởng kinh tế không tự giải quyết được vấn đề xã hội mà phải được hỗ trợ của Nhà nước. Hỗ trợ của Nhà nước chỉ là bà đỡỡỡỡ, còn hỗ trợ của cộng đồng là chủ yếu. Thất nghiệp, nghèo đói ở bất kỳ một quốc gia nào cũng là vấn đề bức xúc, nếu không được quan tâm đến lúc nào đó sẽ trở thành bất ổn định xã hội. Bài học của ông cha ta thời Trần là muốn giữ nước ổn định, phát triển thì thời bình phải khoan sức dân để làm kế sâu gốc bền rễễễễ. Với cách đặt vấn đề như vậy thì quan điểm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội được xác định trong Dự thảo. Báo cáo Chính trị trình Đại hội 10 của Đảng cần được thể hiện ngay trong mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2006 2010 và định hướng đến năm 2020. Song song với đầu tư phát triển kinh tế cần chú ý đầu tư cho chính sách xã hội, như xóa đói giảm nghèo, chính sách với người có công, việc làm và thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, văn hóa, thể thao...

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển như Dự thảo Báo cáo Chính trị nêu có nhiều lĩnh vực liên quan, trong đó có hai lĩnh vực có tính chất bao trùm tác động đến dự tiến bộ và công bằng xã hội, được coi như thước đo để đánh giá một quốc gia tiến bộ hay không tiến bộ, công bằng xã hội hay không công bằng xã hội. Đó là vấn đề xóa đói giảm nghèo, khuyến khích làm giàu chính đáng, xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội (bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp...).

Về xóa đói giảm nghèo, khuyến khích làm giàu chính đáng:

Sự tiến bộ của loài người là phát triển không ngừng. Theo đó, phân hóa giàu nghèo là một tất yếu. Chúng ta cần thực hiện các giải pháp thu hẹp coi trọng vấn đề giảm nghèo, giải quyết việc làm. Người nghèo trước đây chủ yếu là nghèo về lương thực, thực phẩm (cần ăn no, mặc ấm) thì đến nay về cơ bản đã được giải quyết. Song nghèo về phi lương thực, thực phẩm (nhu cầu về nhà ở, chăm sóc sức khỏe khi ốm đau. giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội) ngày càng gay gắt. Cơ hội tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của sự phát triển cũng có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm người giàu và nhóm người nghèo, bởi sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng khi tiến trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Người nghèo ở Việt nam có nhiều nguyên nhân (bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan) do phải trải qua 30 năm chiến tranh, điều kiện tự nhiên ở một số vùng không thuận lợi, chính sách đầu tư phát triển kinh tế chưa cân đối giẵ các cấp hành chính, các vùng miền, giữa các ngành kinh tế (công nghiệp với nông nghiệp, giữa khu vực nông thôn và thành thị); người nghèo thiếu kiến thức sản xuất, thiếu vốn sản xuất, thiểu thông tin về thị trường, thiếu đất sản xuất, không tìm được việc làm, nghèo do ốm đau, bệnh tật, do có người trong gia đình mắc tệ nạn xã hội... Vì vậy, Nếu áp dụng chuẩn nghèo mới thì cả nước hiện nay có 26% số hộ nghèo, tương đương với khoảng gần 4 triệu hộ. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn cho người nghèo để phát triển sản xuất, tạo việc làm thông qua các hình thức kinh tế gia đình, kinh tế trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao động, tăng thu nhập, khuyến khích mọi người làm giàu và tham gia các hoạt động từ thiện, huy động mọi nguồn lực trong cộng đồng dân cư để hỗ trợ người nghèo. Đặc biệt phải quan tâm đến các vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây, quan tâm đến các hộ gia đình chính sách, quan tâm đến các vùng thuần nông để các vùng này có điều kiện phát triển. Trong kế hoạch 5 năm 2006 2010 cần có kế hoạch cụ thể cân đối nguồn lực (kể cả số tương đối và tuyện đối) cho chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm tương xứng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Về chính sách bảo hiểm xã hội:

Chính sách bảo hiểm xã hội nếu thực hiện tốt sẽ là cơ sở để xã hội ổn định, phát triển và làm cho xã hội tiến bộ, văn minh, công bằng hơn. Hầu hết các nước trên thế giới đề có chính sách xây dựng quỹ an sinh xã hội. Đây là quỹ do người lao động đóng góp và có hỗ trợ của Nhà nước. ở nước ta mới thực hiện trong khuôn khổ bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm y tế bắt buộc cho một số đối tượng, chưa có chính sách bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế toàn dân. Một xã hội tiến bộ và công bằng (công bằng trong sự phát triển) là khi người lao động không còn tuổi tham gia hoạt động sản xuất kinh tế, hoặc khi thất nghiệp mất việc làm, khi ốm đau đều được quý bảo hiểm (thế giới thường gọi là quỹ an sinh xã hội) đài thọ. Quỹ này do người lao động, doanh nghiệp đóng góp và Nhà nước bảo trợ. Song song với phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, từ nay đến 2010, nước ta cần sớm xây dựng luật bảo hiểm xã hội (bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm thất nghiệp), bảo hiểm y tế toàn dân và mở rộng các loại hình bảo hiểm khác đã có, nhằm huy động một nguồn lực rất lớn trong cộng đồng dân cư cho đầu tư phát triển xã hội.

Làm tốt những vấn đề trên sẽ tác động tích cực tới việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Phạm Văn Huấn

(Giám đốc Sở Lao động Thương binh Xã hội)