Cự Đà: Cổ kính và ấm áp tình người

Có lẽ không ở đâu có một ngôi làng vừa cổ kính, vừa giàu có với từng ngôi nhà được đánh số như vậy. Dân làng hầu như ai cũng thành đạt ở phương xa, mấy chục nếp nhà cổ giao  người  thân quen coi sóc. Hằng năm, mỗi độ Tết đến xuân về, họ mới trở lại quê hương với tài sản kếch sù kiếm được.

Tết là dịp gặp lại những người làm ăn phương xa

Trong ba làng Khúc Thuỷ, Khe Tang, Cự Đà của xã Cự Khê (Thanh Oai, Hà Tây) Cự Đà có tuổi lâu nhất, ước tính tới 400-500 năm. Con sông Nhuệ chạy xuyên qua hình thành nên một kiến trúc làng theo hình xương cá. Theo thuyết phong thuỷ, làng ở địa thế thuận lợi: nhất cận thị, nhị cận giang. Từ làng ra đất Kẻ Chợ gần hơn ra trung tâm huyện lỵ Hà Đông cũ. Điều độc đáo dễ nhận thấy là những ngôi nhà cổ vài trăm năm vẫn còn giữ được những nét nguyên sơ. Nó là dấu tích cho thấy một thời sầm uất và giàu có không kém  đất kinh kỳ của một làng nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ.

Vài thế kỷ trước, do có con sông Nhuệ hậu thuẫn, các thương lái tập kết hàng tại Cự Đà. Các mặt hàng muối, vải, sợi, bông, gạo, thóc... cấp tập đổ lên bến Cóc. Sự buôn bán ngày càng phát đạt, người ta “đổ tiền” về Cự Đà  xây nhà, dựng cửa làm chốn nghỉ chân, tiếp khách trong những ngày giỗ chạp. Cho nên, hết thảy nhà cửa nơi đây khi đó đều cho thấy sự “chơi ngông” của những người  có“máu mặt”. Có người gọi là “làng doanh nhân”, bởi từ thế kỷ 19-20 đã có những nhà buôn thành đạt, xây “nhà nghỉ” ở làng,  kéo được cả đường dây điện về thắp sáng từ năm 1929. Có thể kể đến các cụ Cự Phách, Cự Doanh, cự Đạt... Những người già cho rằng, bà Cự Chân và thân phụ (cụ Cử Doanh), có thể coi ví là tổ nghề dệt kim của cả nước. Hàng loạt cơ sở sản xuất, xưởng dệt may của cụ Cự Doanh được lập nên ở phố Hàng Quạt (Hà Nội).

Người Cự Đà đi làm ăn thập phương, mỗi năm đến tết mới trở lại quê cùng những tài sản kếch sù kiếm được từ việc làm ăn buôn bán. Tất thảy mọi việc trông coi, chăm sóc nhà cửa đều do  những người thân quen, người ở coi sóc. Ông trưởng thôn Vũ Văn Tuấn đưa ra những con số khá thú vị: Năm 1999, người Cự Đà sống tại Hà Nội lên đến 1000 hộ; sống ở thị xã Hà Đông  288 hộ... và tới gần 70% người Cự Đà dời quê đi buôn bán. Ông Tuấn cũng cho biết: “Dân Cự Đà làm ăn nơi xa hầu như ai cũng thành đạt, những Tết gần đây, có người  đánh cả xe hơi về quê”. Những người dân làm ăn nơi xa không ngại đóng góp xây dựng làng, làng có nhiều nhà xây theo kiến trúc Pháp rất đẹp do những người làm ăn phương xa về xây dựng.  Một đặc điểm mà ít làng ở nước ta có là những ngôi nhà ở Cự Đà cũng được “đánh số, đặt tên” như phố Cự Đà hiện có hơn 400 nóc nhà được đánh số thứ tự. Theo chính quyền địa phương, việc đánh số nhà được thực hiện từ năm 1993. Mỗi xóm, ngõ bắt đầu bằng một chiếc cổng vòm cổ kính. Theo những người già, việc đánh số nhà tại Cự Đà có từ năm 1929. Khi đó, làng có 290 nóc nhà. Đến nay, việc đánh số nhà giữ nguyên nếp cũ, chỉ gắn thêm biển cho những ngôi nhà mới. 

Làng cổ

Qua chiếc cổng vòm cổ kính của xóm Đồng Nhân Cát, chúng tôi đến số nhà 11 của ông Trịnh Thế Sủng. Ông Sủng đi vắng, chỉ có bà cụ 70 tuổi đang tỉ mẩn ngồi nhặt lá cây đem phơi. Ngôi nhà của cụ đã ngót 200 năm, được dựng bằng gỗ xoan đào theo kiểu “7 tiền, bảy hậu, cửa võng bức bàn”  từ năm 1864. Trước đây tổ tiên các cụ có cả một khu nhà rộng liền thành một khối, nhà trên, nhà dưới, nhà chái, nhà ngang... Mỗi khu cách nhau bằng một chiếc cổng vòm có cánh. Cụ thân sinh cũng là một cự phú, có hàng trăm mẫu ruộng bạt ngàn trải khắp xuống Đa Sỹ, Văn Phú, Tó... Rồi  sản nghiệp ấy cũng theo những thú chơi cô đầu, ả đào, hút xách mà tan tành hết. Có những lần cao hứng, cụ thuê cô đào cùng mình rong ruổi dọc sông Nhuệ để thoả chí đàn ca.  Những gì cụ để lại cho con cháu là ngôi nhà “đại khoa” 5 gian với 35 cây cột gỗ xoan với lối kiến trúc mang đậm phong cách thời Nguyễn. Những nét khắc chạm tinh vi trên xà, cột, vách gỗ dường như càng trải qua thời gian mưa nắng, cái tinh tuý của kiến trúc thuần Việt càng được cô lại. Trong cái dáng ngồi suy tư của cụ bà trên hiên nhà, nắng  chênh chếch hắt trên nền gạch Bát Tràng màu da vải như "vẽ lại"  không khí cổ kính buồn của vài trăm năm trước. “Khi tôi về làm dâu, các cụ đã dựng được cả  một khu nhà liền khối như thế. Hàng chục thế hệ nhà tôi từ đây mà ra. Cái mộng gỗ của nó khít tới mức nhét chiếc tăm không lọt!”. Bà cụ chẹp miệng: “Nhà tôi, từ lúc làm đến giờ chưa thay đổi gì, chỉ vài lần đảo ngói. Mà loại ngói di này, dai, bền chắc, cấm có suy suyển vị trí một viên.”.

Những ngôi nhà “đồng niên” như nhà cụ ước chừng còn hơn chục nóc. Còn nếu kể đến những nhà còn nguyên kiến trúc nhà cổ thì Cự Đà còn ngót trăm nếp. Bên cạnh những ngôi nhà Việt cổ, Cự Đà có 30-40 nhà "tây" hai tầng theo kiến trúc Pháp. Ngôi nhà của ông Đinh Văn Tường mua lại 25 năm trước, nguyên là dinh thự của cụ Tư Bàng, cũng là một cự phú lúc bấy giờ. Biệt thự hai tầng này  ngót 100 tuổi. Chủ nhân của nó chắc hẳn là người “kỹ tính” đã chọn cho nó một vị trí khá đẹp: nhà đứng đầu ngõ An Lạc, hai mặt giáp đường làng và ngõ xóm, lại quay ra mặt sông Nhuệ hứng gió trời. Tường hoa, bậu cửa... đều đã lên màu rêu xám. Những phù điêu, hoạ tiết phương Tây đắp nổi vẫn còn ở tầng một. Năm 1947, tại biệt thự này, tự vệ chiến đấu Hà Nội đã quyết tử chống lại 200 lính Pháp. Đi dọc con đường làng Cự Đà ngỡ như mình đang sống giữa xã hội Vịêt thuở trước. Làng còn giữ được nguyên các cổng vòm vào xóm. Xưa, đến giờ giới nghiêm, hai cánh cửa gỗ được đóng chốt, cài then, bảo đảm  “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Thi thoảng, có đoạn đường còn lát gạch xếp nghiêng kẻ chỉ. Hai chiếc cột hình con cóc vẫn đứng ở bến cũ là nơi để thuyền bè cột dây neo đâu, hay đặt chiếc đèn hoa kỳ làm mốc cho những phu, cu-ly bốc dỡ hàng nhìn theo đó mà ghé thuyền vào ăn hàng, đặt mối...

Thu Trang