Công ty than Thống Nhất : Đầu tư, đổi mới công nghệ khai thác than hầm lò

Trước năm 2000 việc khai thác than hầm lò ở Công ty Than Thống Nhất chủ yếu là sản xuất thủ công với phương pháp khấu than bằng khoan nổ mìn, chống giữ lò chợ bằng gỗ, công tác vận chuyển than từ lò chợ ra cửa lò cơ giới hoá ở mức độ thấp. Sản lượng khai thác than hàng năm chỉ đạt trên 300.000 tấn. 
 

Trước năm 2000 việc khai thác than hầm lò ở Công ty Than Thống Nhất chủ yếu là sản xuất thủ công với phương pháp khấu than bằng khoan nổ mìn, chống giữ lò chợ bằng gỗ, công tác vận chuyển than từ lò chợ ra cửa lò cơ giới hoá ở mức độ thấp. Sản lượng khai thác than hàng năm chỉ đạt trên 300.000 tấn. 

 Các năm gần đây, sản lượng khai thác than hàng năm của Công ty tăng vọt, bình quân hàng năm tăng từ 30 đến 40%. Năm 2002, đã đạt sản lượng 475. 000 tấn. Năm 2003 đạt 560.000 tấn. Năm 2004 đã đạt tới 792.000 tấn tăng gấp đôi sản lượng khai thác than 2000. Năm 2005, đánh dấu kỷ lục về khai thác than của mỏ hầm lò, đạt sản lượng khai thác 1 triệu tấn than/ năm, mở đầu bước đột phá mới về khai thác than hầm lò. Năm 2007 và năm 2008 đạt tới 1,5 triệu tấn/ năm. Năm 2009, mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng 6 tháng đầu năm 2009, Công ty than Thống Nhất vẫn đạt sản lượng khai thác và tiêu thụ 806.000 tấn than, bằng 58,93% kế hoạch năm, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2008. Doanh thu đạt trên 383 tỷ đồng bằng 59,12% kế hoạch năm và bằng 126% so cùng kỳ.
 Bí thư Đảng uỷ Công ty Nguyễn Xuân Loan cho biết: Để đạt được mục tiêu trên, các năm qua, Công ty than Thống Nhất duy trì và phát triển chiến lược đầu tư đổi mới công nghệ tạo nên bước tăng trưởng mới trong sản xuất than do đổi mới công nghệ, đưa tiến bộ kỹ thuật, thiết bị hiện đại vào đào lò chiếm vị trí quan trọng. 

 Từ năm 2001, Công ty phối hợp với Viện khoa học và Công nghệ mỏ và các phòng chức năng của Tổng Công ty than Việt Nam (nay là Tập đoàn than – khoáng sản Việt Nam), đẩy mạnh việc đầu tư và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào khai thác than hầm lò. Công ty đã đầu tư  hàng trăm tỷ đồng vào hàng loạt các công trình tiến bộ kỹ thuật được đưa vào khai thác than lò chợ và đào lò xây dựng cơ bản chuẩn bị sản xuất. Năm 2000, mới chỉ có lò chợ ở khu Yên Ngựa được áp dụng công nghệ chống giữ lò bằng giá thủy lực di động, và một lò chợ khu Lộ Trí  chống cột xà ma xát, thì nay 10/10 lò chợ của Công ty đều áp dụng công nghệ khai thác than hầm lò tiên tiến chống giữ bằng giá thuỷ lực di động, cột thuỷ lực đơn trong gương than. Lắp đặt 2 trạm khí nén cố định có năng xuất lưu lượng khí nén cao ở 2 khu Lộ Trí và Yên Ngựa. Bổ xung thêm các thiết bị khai thác có tính năng kỹ thuật cao phù hợp với điều kiện khai thác than hầm lò ở độ sâu như máy Combai, xe khoan tự hành, vận chuyển than bằng băng tải, đầu tàu điện ắc quy, xe goòng trọng tải 3  tấn. Xây dựng phương án chống bằng Neo. Neo kết hợp với Bêtông phun ở những đường lò địa chất ổn định, áp dụng công nghệ chống thuỷ lực kết hợp với hệ thống máng cào uốn .v.v... đã đưa năng suất tiến độ đào lò than tiết diện 12m2 đạt 160m/ tháng, tiến độ đào đá tiết diện 16m2 tăng hơn 50% so với trước. Nhờ vậy đã đưa năng suất, sản lượng lò chợ từ 40.000 tấn đến 50.000 tấn/năm lên 70 – 80.000 tấn và 120.000 tấn/năm.

  Riêng hai lò chợ : khai thác 6 đạt sản lượng 190.000 tấn và lò chợ khai thác 3 đạt mức kỷ lục 230.000 tấn/ năm, bằng sản lượng của Công ty khai thác trong những năm 90 của thế kỷ 20, cải thiện điều kiện làm việc giảm cường độ lao động nặng nhẹ và đảm bảo an toàn tốt cho thợ lò, và tăng mức thu nhập cho người lao động hiện nay gấp 10 lần năm 1999 với mức thu nhập bình quân 5.400.000đ/người/ tháng. 

 Ông Nguyễn Xuân Loan còn cho biết thêm. Công ty có 2 khu lò chợ là khu Lộ Trí và Yên Ngựa, ngoài việc đầu tư đổi mới công nghệ đào lò có tính năng kỹ thuật cao đảm bảo 10/10 lò chợ của Công ty đều được chống bằng giá thuỷ lực di động và chống cột thuỷ lực đơn, trang bị máy khoan hơi hiện đại, máng cào thay thế cho lao động thủ công. Bổ xung thiết bị bơm nước phục vụ cho các lò chợ lò xây dựng cơ bản, đưa hệ thống băng tải đầu tiên vào hầm lò vận chuyển than, có công suất chuyên tải 240 tấn/giờ từ mức -15 lên mức +42 ở khu lò Yên Ngựa. Điểm nổi bật là trong hầm lò đổi mới công nghệ khai thác, trong công tác quản lý Công ty đưa công nghệ thông tin liên lạc vào trong tận hầm lò, trang thiết bị hướng dẫn bằng lade thay cho máy thuỷ chuẩn tạo cho công tác chỉ đạo, điều hành sát đúng, đảm bảo chính xác cao trong kỹ thuật đào lò, giảm được nhiều chi phí  cho sản xuất. 

 Để đảm bảo việc cung ứng vật tư đào lò chủ động, Công ty đầu tư thêm máy gia công vì lò có năng suất 20 vì vòm/ ca cho phân xưởng cơ điện, đảm bảo các vì chống lò không phải mua bên ngoài như trước. Cùng với công việc đầu tư đổi mới công nghệ khai thác lò, Công ty rất quan tâm đến công tác đào tạo thợ lò trẻ có sức khoẻ, có tay nghề chuẩn. Công ty đã tiếp nhận 500 con em công nhân đã được đào tạo thợ lò ở trường đào tạo nghề mỏ Hữu Nghị và trường đào tạo Nghề mỏ Hồng Cẩm, đây là nguồn nhân lực thợ lò trẻ có tay nghề được đào tạo bài bản, chính quy, là lực lượng bổ xung để phát triển sản xuất hiện tại và các năm sau. Riêng 6 tháng đầu năm 2009, Công ty đã tiếp nhận 197 lao động, trong đó có 120 thợ lò, 45 thợ cơ điện, 10 thợ hàn, 10 đại học, 4 nấu ăn.
 Qua trao đổi với Đảng uỷ, Giám đốc, chúng tôi được biết hướng đi của Công ty trong thời gian tới, ngoài việc đầu tư tập trung khai thác than hầm lò ở mức -35 khu Lộ Trí và mở rộng khu khai thác Yên Ngựa ở mức -15, Công ty đang đầu tư hàng ngàn tỷ đồng cho khu khai thác than lò giếng nghiêng xuống mức -140m sâu khu Lộ Trí, để đến năm 2013 đạt sản lượng 2 triệu tấn năm đi vào thế ổn định và phát triển bền vững.

 Đây là cuộc “Cách mạng” đào lò xuống sâu của Công ty. Một cuộc cách mạng toàn diện cả về tư tưởng và khoa học kỹ thuật lớn nhất của Công ty từ trước đến nay. Là đơn vị khai thác than hầm lò có thâm niên trên 100 tuổi mỏ, có bề dày truyền thống vào loại bậc nhất ngành than, là một trong “Cái nôi” của phong trào 36, có khai trường Lộ Trí gắn liền với tên tuổi các nữ liệt sĩ Vũng Đục năm 1948 bất diệt, và là đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ, thợ mỏ Thống Nhất càng vững tin vào Đảng, vào sự nghiệp đổi mới của Đất nước nguyện không ngừng phát huy bản lĩnh anh hùng trong lao động sáng tạo sản xuất thật nhiều than cho tổ quốc./.
  
 CTV Nguyễn Sơn Hải