Công nghiệp văn hóa 'đánh thức' sáng tạo Việt

Công nghiệp văn hóa 'đánh thức' sáng tạo Việt
Đại tiệc văn hóa, nghệ thuật và điện ảnh đang biến Thủ đô Hà Nội thành một sân khấu khổng lồ. (Ảnh: Như Ý)

(PLVN) - Không chỉ là câu chuyện bảo tồn và phát huy di sản, công nghiệp văn hóa đang nổi lên như một ngành kinh tế mới, đóng góp trực tiếp vào GDP, tạo việc làm và nâng tầm thương hiệu quốc gia. Từ điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật ứng dụng đến thiết kế, thời trang, quảng cáo, trò chơi điện tử…, sức sáng tạo Việt đang được “đánh thức”, trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững.

Từ “tiềm năng mềm” đến nguồn lực kinh tế thực

Công nghiệp văn hóa đang trở thành xu hướng và được xác định là phần quan trọng, bền vững, đóng góp vào sự tăng trưởng của đất nước. Các sản phẩm, dịch vụ của ngành công nghiệp văn hóa đã góp phần gia tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và quảng bá hình ảnh Việt Nam với thế giới. Các ngành công nghiệp văn hóa có tỷ lệ giá trị gia tăng cao hơn so với chi phí sản xuất, góp phần tiết kiệm tài nguyên, phát huy và kết hợp được các yếu tố tự nhiên, văn hóa, bản sắc dân tộc và đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

Trong 5 năm qua, bình quân tốc độ tăng trưởng về số lượng các cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hóa đạt 7,21%/năm. Chỉ tính riêng năm 2022, thống kê có khoảng 70.321 cơ sở đang hoạt động có liên quan đến ngành công nghiệp văn hóa và bình quân lực lượng lao động thu hút khoảng 1,7 triệu đến 2,3 triệu người, tăng 7,44%/năm. Việt Nam đang là quốc gia tầm trung về phát triển công nghiệp văn hóa và còn nhiều dư địa phát triển.

Trong bức tranh chung, điện ảnh Việt Nam đang nổi lên như một lĩnh vực có sức lan tỏa mạnh. Nhiều bộ phim nội địa đạt doanh thu trăm tỷ đồng, tạo hiệu ứng xã hội và thu hút nhà đầu tư. Việc các phim Việt liên tục góp mặt tại các liên hoan phim quốc tế cho thấy chất lượng sáng tạo đã có bước tiến đáng kể. Điện ảnh không chỉ bán vé, mà còn kéo theo chuỗi giá trị: quảng bá du lịch, ẩm thực, trang phục, bối cảnh. Nhiều địa phương đã “thay da đổi thịt” nhờ trở thành phim trường, thu hút du khách tìm đến trải nghiệm. Từ đó, công nghiệp điện ảnh gắn kết chặt chẽ với du lịch và dịch vụ.

Âm nhạc cũng là một điểm sáng. Các nghệ sĩ trẻ Việt Nam tận dụng nền tảng số để đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế. Những MV đầu tư công phu, lồng ghép chất liệu dân gian, trang phục truyền thống, bối cảnh di sản đã góp phần quảng bá văn hóa Việt tới khán giả toàn cầu. Không chỉ biểu diễn, nghệ sĩ còn khai thác bản quyền số, quảng cáo, thương mại hóa hình ảnh tạo nên hệ sinh thái kinh tế sáng tạo.

Đặc biệt, sự phát triển của nền tảng nội dung số, trò chơi điện tử, thiết kế đồ họa, hoạt hình… đang mở ra không gian rộng lớn cho giới trẻ. Lực lượng sáng tạo trẻ, thành thạo công nghệ, có tư duy toàn cầu chính là tài sản quý giá của công nghiệp văn hóa. Nhiều startup trong lĩnh vực game, thiết kế, sản xuất nội dung đã ghi dấu ấn trên thị trường khu vực, mang về nguồn thu ngoại tệ đáng kể.

“Kích hoạt” di sản truyền thống bằng sự sáng tạo công nghệ

Một trong những lợi thế đặc biệt của Việt Nam là kho tàng di sản phong phú với hàng chục nghìn di tích, hàng trăm lễ hội, làng nghề truyền thống và các loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc. Vấn đề đặt ra không chỉ là bảo tồn, mà là chuyển hóa di sản thành sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế.

Nhiều địa phương đã bước đầu làm được điều đó: xây dựng tour trải nghiệm làng nghề, tổ chức festival văn hóa, phát triển sản phẩm lưu niệm thiết kế sáng tạo dựa trên họa tiết truyền thống. Khi di sản được kể lại bằng ngôn ngữ hiện đại, tiếp cận giới trẻ, giá trị văn hóa được “kích hoạt” theo cách mới.

Sự kết hợp giữa nghệ nhân và nhà thiết kế trẻ tạo ra các bộ sưu tập thời trang, sản phẩm thủ công ứng dụng mang hơi thở đương đại. Đây chính là cách công nghiệp văn hóa “đánh thức” sự sáng tạo Việt bằng cách kết nối quá khứ và hiện tại, truyền thống và công nghệ.

Bắc Bling của Hòa Minzy tôn vinh vẻ đẹp và những giá trị văn hóa truyền thống Việt. (Ảnh trong MV Bắc Bling)
Bắc Bling của Hòa Minzy tôn vinh vẻ đẹp và những giá trị văn hóa truyền thống Việt. (Ảnh trong MV Bắc Bling)

Trong thời đại toàn cầu hóa, thương hiệu quốc gia không chỉ đến từ chỉ số kinh tế, mà còn từ hình ảnh văn hóa. Một bộ phim hay, một bản nhạc lan tỏa, một lễ hội được tổ chức chuyên nghiệp có thể tạo ấn tượng mạnh mẽ với bạn bè quốc tế. Công nghiệp văn hóa vì thế đóng vai trò quan trọng trong chiến lược xây dựng hình ảnh Việt Nam năng động, sáng tạo và giàu bản sắc. Khi các sản phẩm văn hóa “made in Vietnam” được đón nhận ở thị trường quốc tế, đó không chỉ là thành công thương mại mà còn là sự khẳng định vị thế.

Nhiều chuyên gia nhận định, sức mạnh mềm văn hóa giúp Việt Nam gia tăng ảnh hưởng, thu hút đầu tư, thúc đẩy du lịch và giao lưu quốc tế. Đó là lợi ích lâu dài và bền vững, vượt ra ngoài những con số GDP thuần túy.

Công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà còn là câu chuyện về khát vọng sáng tạo. Trong mỗi nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà làm phim, lập trình viên, nghệ nhân… đều ẩn chứa năng lượng sáng tạo dồi dào. Khi được trao cơ hội, được bảo vệ quyền lợi và được kết nối thị trường, họ sẽ tạo nên những giá trị vượt mong đợi.

Những năm gần đây, nhiều không gian sáng tạo, trung tâm nghệ thuật độc lập, khu phức hợp văn hóa, nghệ thuật đã xuất hiện tại Hà Nội, TP.HCM và các thành phố lớn. Đây là nơi ươm mầm ý tưởng, kết nối cộng đồng sáng tạo và doanh nghiệp. Quan trọng hơn cả là sự thay đổi trong nhận thức: văn hóa không chỉ để thưởng thức, mà còn để đầu tư, kinh doanh và xuất khẩu. Khi xã hội coi trọng sáng tạo như một nguồn lực kinh tế, khi người trẻ tin rằng họ có thể sống bằng nghề sáng tạo, lúc đó công nghiệp văn hóa thực sự trở thành ngành kinh tế mới.

Tại Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, TS. Nguyễn Phương Hòa, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đưa ra ý kiến, để tăng cường sức mạnh mềm, Việt Nam cần tiếp tục đầu tư tăng cường sự hiện diện của tại các sự kiện văn hóa, nghệ thuật uy tín trong khu vực và quốc tế, chủ động đăng cai một số sự kiện quy mô quốc tế để vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc và giới thiệu, ra mắt các sản phẩm văn hóa chất lượng cao của Việt Nam, từng bước xây dựng các sản phẩm thương hiệu quốc gia hướng tới xuất khẩu.

Các địa phương cần chú ý xây dựng các thương hiệu riêng như: Hà Nội - Thành phố sáng tạo với các Liên hoan thiết kế sáng tạo, Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội, Liên hoan Âm nhạc Gió mùa…, Huế - Thành phố festival với Festival Huế, Festival làng nghề truyền thống, Đà Lạt với các Lễ hội hoa, chương trình âm nhạc uy tín… Để quảng bá hình ảnh quốc gia, Nhà nước cần đầu tư để Việt Nam tham gia định kỳ, bài bản, có quy mô tại các kỳ World Expo, Venice Biennale về nghệ thuật, Milan Triennale về kiến trúc, các không gian quảng bá quốc gia tại các kỳ Liên hoan phim quốc tế Cannes, Berlin,…

Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, công nghiệp văn hóa Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức: quy mô doanh nghiệp còn nhỏ lẻ, thiếu vốn đầu tư lớn; hành lang pháp lý về bản quyền, sở hữu trí tuệ chưa đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu. Bên cạnh đó, tư duy xã hội về văn hóa như một ngành kinh tế vẫn cần thay đổi mạnh mẽ hơn. Nhiều người vẫn coi văn hóa chủ yếu là lĩnh vực “tiêu tiền ngân sách”, chưa nhìn nhận đúng vai trò tạo ra giá trị gia tăng.

Để bứt phá, cần chính sách ưu đãi thuế, quỹ đầu tư sáng tạo, cơ chế hợp tác công - tư hiệu quả. Đồng thời, giáo dục nghệ thuật và sáng tạo cần được chú trọng từ sớm, nuôi dưỡng thế hệ công dân sáng tạo.

Chuyển đổi số cũng là chìa khóa quan trọng. Khi nền tảng trực tuyến trở thành kênh phân phối chính, việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất, quảng bá, phân tích dữ liệu người dùng sẽ quyết định sức cạnh tranh. Các doanh nghiệp văn hóa cần học cách vận hành theo tư duy thị trường, chuyên nghiệp và toàn cầu.

TS. Nguyễn Phương Hòa cũng đưa ra kiến nghị, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện đồng bộ thể chế, gắn kết chính sách công nghiệp văn hóa sáng tạo trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế, xã hội quốc gia: Đổi mới tư duy quản lý Nhà nước sang “kiến tạo”, “phục vụ phát triển”, trở thành kim chỉ nam cho việc xây dựng thể chế, pháp luật, cơ chế, chính sách. Trong lĩnh vực văn hóa, một lĩnh vực được xem còn thiếu nhiều bộ luật, việc xây dựng các bộ luật mới và sửa đổi các luật hiện hành cần dựa trên tư duy thúc đẩy tự do sáng tạo, bảo vệ quyền của nghệ sỹ, người sáng tạo, hỗ trợ lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và các ngành công nghiệp văn hóa sáng tạo phát triển.

Đặc biệt, cần xây dựng một cơ chế thực thi hiệu quả pháp luật về sở hữu trí tuệ và bảo vệ bản quyền tác giả, nhất là trong môi trường số. Luật pháp và các chính sách về bản quyền phải bảo vệ quyền lợi của nghệ sỹ và những người sáng tác, nhưng đồng thời phải đảm bảo sự cân bằng về việc công chúng được tiếp cận với các tác phẩm sáng tạo.

Thùy Dương