Công nghiệp phụ trợ, càng họp càng... teo tóp

 

Việt Nam đã nhập siêu liên tục 20 năm qua với mức độ ngày càng trầm trọng. Bên cạnh cơ cấu đầu tư thiên lệch về các ngành thay thế nhập khẩu, tỷ giá VND/USD, gia tăng tiêu dùng xa xỉ, thì nguyên nhân được đánh giá cơ bản nhất chính là công nghiệp phụ trợ yếu kém.

 Việt Nam đã nhập siêu liên tục 20 năm qua với mức độ ngày càng trầm trọng. Bên cạnh cơ cấu đầu tư thiên lệch về các ngành thay thế nhập khẩu, tỷ giá VND/USD, gia tăng tiêu dùng xa xỉ, thì nguyên nhân được đánh giá cơ bản nhất chính là công nghiệp phụ trợ yếu kém.

Nhà nước: mơ hồ về công nghiệp phụ trợ

Hiện nay, trong hệ thống luật pháp nước ta vẫn chưa có định nghĩa về ngành công nghiệp phụ trợ (CNPT). Điều đó dẫn đến việc trong các quy định pháp quy không hề có chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển ngành CNPT. Tới nay, nghị định về phát triển CNPT vẫn chưa thể ra đời do giữa các bộ ngành còn chưa thống nhất quan điểm về sự cần thiết phải có riêng một nghị định của Chính phủ về vấn đề này.

Cũng chính vì thế, chưa hề có chiến lược, quy hoạch nào đối với CNPT được xây dựng, công khai. Mà, để tận dụng hiệu quả các nguồn lực còn hạn hẹp cần có các chính sách xác định rõ các lĩnh vực cần được ưu tiên để phát triển CNPT. Chẳng hạn như hiện nay, theo các chuyên gia, lĩnh vực như cán thép, đúc, xử lý nhiệt và chế tạo là những lĩnh vực còn tương đối lạc hậu, nên có thể tập trung phát triển CNPT trong lĩnh vực này.

Thực tế đang đòi hỏi một  bản quy hoạch chi tiết phát triển CNPT,  trên cơ sở đó tiếp tục giữ mức độ bảo hộ như cam kết đối với các mặt hàng đầu vào sản xuất,  nhằm hỗ trợ các ngành “non trẻ” này. Sau một thời gian thực hiện, rà soát lại, nếu mặt hàng nào không thể phát triển sản xuất có hiệu quả có thể hạ thấp hàng rào bảo hộ mạnh hơn cam kết và chấp nhận nhập khẩu mặt hàng này từ nước ngoài.

Theo TS.Trần Đình Thiên, Nhà nước có thể tận dụng các DNNN đã tồn tại từ lâu và có tiềm năng về vốn theo hướng chuyên môn hóa, tập trung vào một ngành.

Doanh nghiệp: ham “từ A tới Z”

Có thể dễ dàng nhận thấy, yếu tố quan trọng trong việc hình thành và thúc đẩy sự phát triển của CNPT là nhận thức của các DN về tầm quan trọng của nó đối với việc nâng cao sức cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam. Mặc dù gần đây, các cơ quan nhà nước bắt đầu ý thức được tầm quan trọng của việc phát triển CNPT, nhưng các DNNN – chủ thể chính trong lĩnh vực này – từ trước đến nay lại thường hoạt động theo kiểu trọn gói, tức là sản xuất từ A tới Z. Do đó, các DN này hầu như không có khái niệm về ngành CNPT. Tuy nhiên, khi tham gia sản xuất từ A tới Z, hiệu quả sản xuất của công ty đó sẽ không cao vì cần nhiều vốn đầu tư, và vì thế, đầu tư của họ buộc phải dàn trải. Đó là lý do tại sao các công ty hoạt động trong ngành CNPT chỉ nên chọn tham gia vào một lĩnh vực sản xuất.

Các DN cần phải đa dạng hóa trong hợp tác, liên doanh liên kết với các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là với các công ty có trình độ kỹ thuật cao và có bề dày kinh nghiệm để có thể cạnh tranh với các DN Trung Quốc sẽ đầu tư vào nước ta trong thời gian tới. Chỉ có đa dạng hóa liên doanh liên kết, hợp tác đầu tư thì các DN Việt Nam mới có thể là một mắt xích trong dây chuyển sản xuất toàn cầu.

Từ trước đến nay chúng ta mới chỉ quan tâm đến liên doanh thông qua việc góp vốn đầu tư, gia công sản phẩm đơn giản thì đã đến lúc các DN cần phải coi trọng  liên doanh, liên kết dưới dạng đối tác chiến lược, DN vệ tinh, chuyển nhượng bản quyền, thương hiệu…, bắt đầu xây dựng ngành CNPT từ việc sản xuất những chi tiết dễ gia công, lắp đặt rồi tiếp cận dần đến những chi tiết phức tạp hơn.

Bách Nguyễn