Công lý khí hậu đang định hình luật chơi “xanh” của doanh nghiệp xuất khẩu?

Công lý khí hậu đang định hình luật chơi “xanh” của doanh nghiệp xuất khẩu?
TS. Nguyễn Thị Lan Hương, Trưởng Bộ môn Luật Thương mại Quốc tế, Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh. Ảnh TG

TS. Nguyễn Thị Lan Hương, Trưởng Bộ môn Luật Thương mại Quốc tế, Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh cho biết, vấn đề đang được quan tâm thảo luận hiện nay tại nhiều diễn đàn là công lý khí hậu trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp để hàng hóa có thể tiếp cận các thị trường có tiêu chuẩn cao.

Công bằng về thủ tục là yếu tố rất quan trọng

“Có thể hiểu đơn giản, công lý khí hậu là cách nhìn biến đổi khí hậu không chỉ như một vấn đề môi trường, mà còn bao hàm các yêu cầu về công bằng. Theo cách tiếp cận phổ biến hiện nay, công lý khí hậu thường được nhìn nhận dưới 3 khía cạnh”, TS. Nguyễn Thị Lan Hương thông tin.

Thứ nhất là công bằng trong phân bổ, tức là ai phải gánh chi phí nhiều hơn, ai cần được hỗ trợ nhiều hơn và lợi ích của quá trình chuyển đổi được chia sẻ ra sao.

Thứ hai là sự công nhận, nghĩa là phải tính đến các hoàn cảnh và mức độ dễ bị tổn thương khác nhau của từng quốc gia, cộng đồng hoặc nhóm xã hội.

Và thứ ba là công bằng về thủ tục - ai được tiếp cận thông tin, ai được tham gia và tiếng nói của họ có thực sự được xem xét trong quá trình ra quyết định hay không.

Ba khía cạnh này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Một chính sách có thể theo đuổi các mục tiêu chính đáng, nhưng nếu bỏ qua hoàn cảnh của nhóm chịu tác động hoặc không tạo cho họ cơ hội tham gia thì kết quả vẫn có thể thiếu công bằng.

Theo TS. Nguyễn Thị Lan Hương, trong ba khía cạnh vừa đề cập, công bằng về thủ tục trở nên quan trọng hơn khi các chính sách khí hậu bắt đầu ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện tiếp cận thị trường thông qua việc vận hành chuỗi cung ứng toàn cầu. Chẳng hạn, một quy định về carbon, truy xuất nguồn gốc có thể được xây dựng và áp dụng ở một thị trường phát triển, nhưng chi phí tuân thủ lại rơi vào doanh nghiệp và người sản xuất ở các nước xuất khẩu như Việt Nam.

Vì vậy, vấn đề không chỉ là quy định đó đặt ra yêu cầu gì, mà còn là doanh nghiệp và các quốc gia chịu tác động có được tiếp cận thông tin, tham gia góp ý và phản ánh những khó khăn thực tế hay không. Nếu một tiêu chuẩn được xây dựng dựa trên dữ liệu hoặc điều kiện sản xuất không phù hợp với các nước đang phát triển, và các nước này không có đủ khả năng để đóng góp ý kiến, thì khả năng tác động đến các quyết định, chính sách sẽ rất hạn chế.

Một điểm đáng chú ý của Hiệp định thương mại tự do EU-Việt Nam (EVFTA) là hiệp định này mở ra không gian để nhiều nhóm khác nhau có thể đưa ra ý kiến, khuyến nghị và phản ánh những vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi EVFTA. Bên cạnh đó, Việt Nam và EU còn có cơ chế đối thoại chung, giúp các ý kiến này không chỉ dừng lại ở phạm vi trong nước mà còn có thể được thảo luận giữa hai bên.

Với doanh nghiệp, điều này có ý nghĩa thiết thực. Khi một yêu cầu mới về môi trường làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu hoặc gây khó khăn cho một ngành cụ thể, doanh nghiệp có thể thông qua các hiệp hội hoặc tổ chức đại diện để gửi ý kiến trao đổi. Như vậy, doanh nghiệp không chỉ là bên phải thụ động tuân thủ các quy định, mà còn có cơ hội phản ánh những tác động thực tế của các quy định đó.

Doanh nghiệp chủ động phối hợp với các đối tác trong chuỗi cung ứng. Ảnh internet
Doanh nghiệp chủ động phối hợp với các đối tác trong chuỗi cung ứng. Ảnh internet

Chủ động phối hợp với các đối tác trong chuỗi cung ứng

Một câu hỏi đặt ra là Việt Nam và doanh nghiệp xuất khẩu cần chuẩn bị gì để tham gia chủ động hơn vào quá trình định hình các quy định thương mại và khí hậu mới?

TS. Nguyễn Thị Lan Hương nhấn mạnh, việc đầu tiên Việt Nam cần làm là củng cố dữ liệu và năng lực chuyên môn. Chỉ khi dựa trên số liệu và phân tích rõ ràng với đầy đủ cơ sở, tiếng nói của chúng ta mới có sức nặng trong quá trình trao đổi với đối tác. Tiếp đến, chúng ta cần tham gia sớm hơn vào quá trình xây dựng các tiêu chuẩn và quy định mới. Nhiều yêu cầu, quy định được thảo luận trong thời gian khá dài tại các thị trường đối tác trước khi chính thức áp dụng. Vì vậy, cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và các chuyên gia cần theo dõi từ sớm, nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến phản hồi ngay từ giai đoạn dự thảo.

Các cơ chế sẵn có trong EVFTA cũng nên được tận dụng hiệu quả hơn. DAG hay Ủy ban Thương mại và Phát triển bền vững có thể là nơi đưa ra những vấn đề rất cụ thể, chẳng hạn phương pháp tính phát thải nào đang gây vướng mắc, chi phí chứng nhận có quá cao hay doanh nghiệp đang thiếu hỗ trợ kỹ thuật ở khâu nào. Khi vấn đề được trình bày bằng dữ liệu và đi kèm đề xuất rõ ràng, đối thoại sẽ có hiệu quả và mang lại giá trị hơn.

“Tôi cũng cho rằng doanh nghiệp Việt Nam nên chủ động phối hợp với các đối tác trong chuỗi cung ứng. Nhà nhập khẩu châu Âu và doanh nghiệp Việt Nam thường có chung lợi ích trong việc duy trì nguồn cung ổn định và chi phí hợp lý. Nếu một quy định mới đặt ra thời gian chuyển đổi quá ngắn hoặc phát sinh chi phí quá lớn, hai bên có thể cùng cung cấp thông tin và đề xuất các giải pháp phù hợp hơn”, TS. Nguyễn Thị Lan Hương lưu ý.

Đồng thời, theo Nguyễn Thị Lan Hương, nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có nguy cơ chịu áp lực lớn nhất từ chi phí đo lường phát thải, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận quốc tế. Vì vậy, nhà nước có thể hỗ trợ thêm nhóm này thông qua hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo, chia sẻ dữ liệu và các chương trình giảm chi phí tuân thủ. Nếu không, nhiều doanh nghiệp có thể mất cơ hội tham gia chuỗi cung ứng không phải vì sản phẩm kém, mà vì thiếu nguồn lực để chứng minh rằng mình đáp ứng các yêu cầu.

Dự kiến ngày 30/10, Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh và Trung tâm Luật quốc tế, ĐH Quốc gia Singapore tổ chức Hội thảo quốc tế về biến đổi khí hậu, thảo luận các chủ đề, đưa ra các giải pháp, trong đó có giải pháp kinh tế để chống biến đổi khí hậu trong khu vực ASEAN và Việt Nam.

Thông tin đăng ký tham dự: https://conference.hcmulaw.edu.vn/accc5

Chu Quang