Con trâu Việt Nam

 QTV - Con trâu không chỉ là đầu cơ nghiệp, nó còn là người bạn thân thiết nhất của người nông dân Việt Nam. Những buổi bình minh ta đánh trâu ra đồng cày ruộng. Suốt mấy ngàn năm dựng nước, con trâu bao giờ cũng biết dạy sớm trước lúc mặt trời mọc để giúp con người làm ra hạt lúa, củ khoai, góp phần hình thành nên nền văn minh lúa nước Lạc Việt.
 

 QTV - Con trâu không chỉ là đầu cơ nghiệp, nó còn là người bạn thân thiết nhất của người nông dân Việt Nam.

 "Trâu ơi! Ta bảo trâu này
 Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta."

 Những buổi bình minh ta đánh trâu ra đồng cày ruộng. Suốt mấy ngàn năm dựng nước, con trâu bao giờ cũng biết dạy sớm trước lúc mặt trời mọc để giúp con người làm ra hạt lúa, củ khoai, góp phần hình thành nên nền văn minh lúa nước Lạc Việt.

 Đất nước Việt Nam có nhiều gia súc, gia cầm, con vật nào cũng quý, cũng yêu, nhưng con trâu vẫn là con vật thân thiết nhất của nhà nông, là hình ảnh thân thương nhất đối với người nông dân, đối với cả dân tộc Việt Nam.

 Trâu Tây Bắc, Việt Bắc, bò Thanh Hóa, trâu Hà Giang, Nghệ An, khu 4... con nào cũng to, cũng khỏe. Trên giải đất Việt Nam từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau ở thôn bản nào, làng xóm nào cũng có trâu, có bò. Con trâu hiền từ, thủy chung, rất cần mẫn và chăm chỉ chẳng quản nhọc nhằn cùng người vất vả quanh năm hai sương một nắng gắn bó với đồng ruộng. 

 "Trên đồng cạn dưới đồng sâu
 Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa."

 Trâu ăn ở với người như thế. Trâu là cánh tay phải của nhà nông. Trâu với người sống với nhau đời đời kiếp kiếp đã mấy ngàn năm. Dưới bóng tre làng, người nông dân dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang. Trâu và người đều chung vai, đấu cật, ăn ở thủy chung, tình nghĩa. Trâu giúp người trăm công, ngàn việc làm ra lúa gạo, ngô khoai, nhưng chỉ nhận về mình phần rơm rạ. Chiều dài lịch sử của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Vẫn con trâu đi trước cái cày đi sau. Trâu là bạn, trâu là người nhà. Trâu gắn bó hàng ngày với đời sống nhà nông.

 Trâu đi cày, đi bừa. Trâu gặm cỏ trên đê, dưới bóng tre xanh. Trâu đằm mình dưới sông. Trẻ em chăn trâu, thả diều, ngồi thổi sáo vắt vẻo trên mình trâu. Trâu đua tài, thử sức trong ngày lễ hội chọi trâu. Chọi trâu là biểu tượng của những vụ mùa viên mãn, vừa nói lên sức sống của người nông dân bất khuất, một sinh hoạt văn hóa truyền thống của nông dân. Xưa kia chọi trâu còn là sự tuyển chọn tráng đinh, luyện tập binh sĩ, cổ vũ động viên tinh thần thượng võ của người Việt.

 "Dù ai buôn đâu, bán đâu
 Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về".

 Khi Tổ quốc lâm nguy trâu với người lại cùng nhau ra trận. Trâu xung kích, phóng lửa, xả thân vào đồn bốt, kho xăng giết giặc trừ gian, trâu vận tải lương thực súng đạn cho người nông dân bảo vệ đồng ruộng xóm làng quê hương. Trâu là nguồn vui của trẻ thơ. Một ngàn năm trước, chú bé Đinh Bộ Lĩnh cùng bạn cưỡi trâu, phất cờ lau tập trận để rồi trở thành Hoàng Đế Đinh Tiên Hoàng, thống nhất đất nước, lập nên triều đại phong kiến đầu tiên của Việt Nam. Trong chiều dài lịch sử, không một em bé nông thôn nào không được trưởng thành từ trên lưng trâu. Dân tộc ta từ buổi bình minh đã phải lên mình ngựa theo hình ảnh Thánh Gióng, nhưng lúc nào cũng nghĩ về con trâu thanh bình nơi đồng ruộng. Nghe tiếng nghé ọ, tiếng mõ trâu, tiếng sáo mục đồng vút lên từ buổi trưa hè, từ khói bếp lam chiều lúc hoàng hôn là giấc mơ muôn thưở nhớ về quê hương.

 Người với trâu giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Trâu với người sông thủy chung, tình nghĩa, đến khi chết còn để lại cho đời nhiều bổ ích, tục ngữ có câu: "Trâu chết để da, Người ta chết để tiếng".

 Da trâu bọc trống, trống đại, trống trung, trống ếch, trống cơm. Trống treo ở đình, ở đền, ở miếu. Tiếng trống gọi các em nhỏ đến trường, vào lớp. Tiếng trông ếch rước đèn, đón tết Trung thu, tiếng trống cầm nhịp cho em tập thể dục, duyệt nghi thức đội, cho anh bộ đội bước đều dưới lá quân kỳ và cả tiếng trống trong ngày lễ hội. Mỗi khi tiếng trống chèo cất lên thì cả làng, cả xóm cùng say trong tiếng hát làn chèo, mà thứ men say ấy bốc lên từ mặt trống da trâu.

 Tiếng tù và báo động, tiếng trống cầm canh, điểm giờ, đổi gác và cả tiếng trống xung trận ở Bạch Đằng, ở Chi Lăng... mà mỗi lần nghe tiếng trống ấy kẻ thù phải thốt lên rằng: "Không gì rợn bằng nghe tiếng trống thúc quân của người Lạc Việt và tiếng khua gươm phía cõi trời Nam".

 Suốt chặng đường lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước của người Việt cổ cho đến ngày hôm nay trải qua hàng ngàn năm văn hiến. Từ thưở lọt lòng người ta đã biết uống sữa trâu, sữa bò, đến khi nhắm mắt xuôi tay, chiếc xe trâu lại đưa con người về với cát bụi và tiếng trống cất lên vĩnh biệt như nhắn gửi lòng thủy chung của con trâu đối với người phát ra từ mặt trống.

 Con trâu đã có mặt trong  nền văn minh lúa nước Việt Nam. Con trâu lật lên muôn vàn sá cầy trên những cánh đồng năm tấn, mười tấn làm nên kỳ tích Việt Nam, nước xuất khẩu gạo thứ ba của thế giới. Trời cao lồng lộng, đồng ruộng bao la, tiếng sáo mục đồng vút lên từ lưng trâu. Con trâu và chú bé là bức tranh thanh bình của đồng quê là khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Con trâu đã đi vào thơ ca, hội họa. Con vật hiền từ, thủy chung ấy đã trở thành linh vật của Seagames 22, biểu tượng của tình đoàn kết hợp tác vì hòa bình và phát triển của các dân tộc.

 Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước. Chúng ta đang vững bước tiến vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền nông nghiệp, trên đồng ruộng Việt Nam đang và sẽ xuất hiện nhiều những con trâu đỏ, trâu sắt. Nhưng trên bước đường ta đi tới, con trâu vẫn là con vật trung tâm của làng quê Việt Nam. Trâu mãi mãi gắn bó với lũy tre làng, với đồng ruộng với nhà nông chúng ta, cùng vui trong hạnh phúc hòa bình. Hình ảnh ấy không bao giờ và mãi mãi không thể phai mờ đối với nông thôn Việt Nam vì con trâu là biểu tượng cho lòng nhân ái đức tính cao quý của dân tộc Việt Nam.

Sơn Hải