Còn lại trên hành trình “Nhật ký chiến tranh”
Nhà văn - liệt sĩ Chu Cẩm Phong (tên thật là Trần Tiến), sinh ngày 12-8-1941 tại Hội An, Quảng Nam. Năm 1954, anh theo cha tập kết ra Bắc, tốt nghiệp Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1964, được chọn đi học tiếp nước ngoài, nhưng anh tình nguyện vào Nam chiến đấu, làm báo, viết văn... Ngày 1-5-1971, Chu Cẩm Phong hy sinh tại chính chiến trường quê hương Duy Xuyên, Quảng Nam. Ngoài những bút ký, truyện ngắn đã ấn hành, “Nhật ký chiến tranh” là tác phẩm của Chu Cẩm Phong được tìm thấy sau ngày đất nước thống nhất.
Nhà văn - liệt sĩ Chu Cẩm Phong (tên thật là Trần Tiến), sinh ngày 12-8-1941 tại Hội An, Quảng Nam. Năm 1954, anh theo cha tập kết ra Bắc, tốt nghiệp Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1964, được chọn đi học tiếp nước ngoài, nhưng anh tình nguyện vào Nam chiến đấu, làm báo, viết văn... Ngày 1-5-1971, Chu Cẩm Phong hy sinh tại chính chiến trường quê hương Duy Xuyên, Quảng Nam. Ngoài những bút ký, truyện ngắn đã ấn hành, “Nhật ký chiến tranh” là tác phẩm của Chu Cẩm Phong được tìm thấy sau ngày đất nước thống nhất.
![]() | |
|
. |
Căn hầm L - ngày ấy, ngày xưa...
Cho đến nhiều thập niên sau, kể từ ngày 1-5-1971 nơi căn hầm L mà nhà văn Chu Cẩm Phong cùng đồng đội đã chiến đấu đến những giây phút cuối cùng, nhiều đồng nghiệp và bạn bè của anh khi trở lại xã Duy Tân (trước kia là Xuyên Phú) cũng không biết được cụ thể những gì về trận đánh, không biết anh núp với ai trong căn hầm và ai còn, ai mất...
Đến năm 2000, cùng lúc việc xây dựng các thôn làng văn hóa, huyện Duy Xuyên phối hợp cùng Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam xây dựng bia tưởng niệm nhà văn Chu Cẩm Phong cùng đồng đội ngay tại địa điểm căn hầm L. Cũng cách đó không xa, suốt nhiều năm nay, gia đình ông Văn Công Mịch (nguyên là đảng ủy viên phụ trách tiền phương thời đó) tự nguyện lập bàn thờ và hương khói, giỗ cúng cho nhà văn.
Cha ông Mịch cũng chính là người đã chôn cất cho anh em đã hy sinh tại căn hầm. Trong chiến tranh, chỉ riêng tại xã Duy Tân, trong số chưa đầy 6.000 dân, đã có 1.500 liệt sĩ, 129 Bà mẹ VNAH... Song, may mắn thay, vẫn còn đó không ít nhân chứng là các bà mẹ bám trụ, những anh du kích mưu trí, gan dạ để chúng ta còn có thể biết được câu chuyện năm xưa.
Những dòng nhật ký cuối cùng của Chu Cẩm Phong dừng lại vào ngày 27-4-1971. Đoạn cuối viết: “Dậy từ lúc 3 giờ. Cây cối ngủ im lìm. Những ngọn điện khu An Hòa đỏ nhòe trong sương, ánh đèn pha quét qua quét lại/ Sáng nay chúng đã bắn ngót trăm trái pháo sang Đại Lộc, sau đó đổ 10 tàu HU1A. Khổ cho mấy chị chạy sang bên đó. Nhìn rõ chúng đi lại, 7-8 thằng đi xuống giếng ngoài đồng tắm, nước loang loáng trắng trên đầu như ở đó có gắn một cây đại liên đang bắn/ 10 giờ, 2 chiếc phản lực đến thả bom và bắn đạn 20 ly, sau đó quân bộ kéo sang”.
Anh Lê Yến, một trong những người cùng trú hầm L còn sống sót, cho biết: Các ngày 28, 29, 30-4 tình hình hết sức căng thẳng. Căn hầm có 8 người nấp. Sáng ngày 1-5, địch phát hiện bắn xối xả vào bụi tre. Mọi người đang loay hoay dưới công sự, thì bỗng nắp công sự bật mở. Quả lựu đạn đầu tiên rơi xuống nổ.
Chu Cẩm Phong và hai cô y tá (Ta và Ca) bị thương ngay đó. Lựu đạn tấp xuống liên tục, có khi anh em sờ đụng ném lên. Chu Cẩm Phong cùng hai người bị thương ngất xỉu rồi tắt thở sau đó. Một trong những người còn sống (anh Mai) vờ đầu hàng, vọt lên tung lựu đạn, bỏ chạy. Một người khác (anh Tiềm) trườn tiếp lên, thì bị trúng đạn...
Trong một chuyến thăm của những người thân nhà văn Chu Cẩm Phong tại bia tưởng niệm gần đây, sau khi thắp hương ở gia đình thờ tự anh, chúng tôi không gặp Lê Yến, mà gặp vợ anh, vì anh bị ốm không đến được. Chị kể câu chuyện sống sót của chồng sau trận đánh tại căn hầm L có những chi tiết không hoàn toàn khớp với diễn biến do anh Yến kể lại trong một vài bài ký trước đó, nhưng chung quy: Anh Yến là một trong 3 người may mắn còn sống sau khi địch phá banh hầm, kéo xác người lên. Anh Yến còn tỉnh, giả chết.
Hai người còn lại (Nguyên và Ngọc) lả người, xỉu. Chúng cột những người còn sống vào một bụi tre. Đêm đó, anh em bàn nhau tháo trói, mỗi người chạy một hướng. Anh Yến thoát được. Anh Ngọc và anh Nguyên bị bắt liền.
Giờ đây, bia tưởng niệm Chu Cẩm Phong và đồng đội tại xã Duy Tân được xem là biểu tượng anh hùng, niềm tự hào về một quá khứ hào hùng của người dân Duy Xuyên để nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau. Những câu chuyện bên hầm L cứ như là cổ tích, huyền thoại xa xôi. Ai cũng biết, ai cũng kể. Chỉ cần gợi chuyện, họ kể say sưa, suốt ngày, mỗi người mỗi cách, nghe rơm rớm nước mắt... Dù vậy, nhà văn Hồ Duy Lệ vẫn lo âu: “... Nếu như, không ai kể lại và, nếu như, không ghi chép lại bằng lời văn hay bằng một loại hình nghệ thuật nào đó, thì ai mà biết được ngày ấy, ngày xưa...”.
Gặp lại tên mình trong “Nhật ký chiến tranh”
![]() |
|
|
Hầm L bây giờ. |
|
Trong trang viết Thứ ba, ngày 7-1-1969 của nhà văn Chu Cẩm Phong có đoạn: “Trưa nay mình về nhà chị Lạng, nhà đang làm lễ 21 ngày cho mẹ. Đây là một bà mẹ kiên cường. Chồng đi tập kết, bà ở nhà vẫn nuôi cán bộ, sau ngày giải phóng (1964) tích cực tham gia công tác kháng chiến. Mình nghe bà con hàng xóm thương tiếc: “Nhà đó mới là cách mạng toàn gia”. Nhà có ba con trai, anh cả đi công tác huyện; người thứ hai đi du kích, hy sinh; cậu út tên là Nhạn, mới 15 tuổi, đã tỏ ra người đàn ông trong gia đình.
Cậu lanh lợi, thuộc nhiều thơ Tố Hữu, Thu Bồn, có giọng ngâm rất tốt, rất ham học, cứ mơ ước được học lên đại học. Cậu ta hỏi mình: “Em không biết ra sao-người học lớp 4 có người lớp 7 dạy, người học lớp 7 có người lớp 10 dạy, người học lớp 10 có người đại học dạy, người dạy đại học là ai mà giỏi rứa. Ước chi...”. Quả thật, từ rất sớm nhà văn Chu Cẩm Phong đã dự cảm về “cậu bé tên Nhạn” không sai. Sau chiến tranh, cậu bé ấy không ngừng học hỏi, vươn lên, trở thành một kỹ sư xây dựng có nhiều công trình đóng góp cho quê nhà.
Anh Nhạn cho biết: “Tôi nhớ nhất có lần do chạy tránh đạn, tôi làm mất đi một khoản tiền quỹ của đội thiếu niên (số tiền này hồi đó với tôi rất lớn), tôi gặp anh Phong đang nằm trên võng, liền sà vào người anh kể lại và khóc òa. Lúc đó, anh Phong vỗ về, dỗ dành, động viên tôi rất ân cần”. Anh Nhạn nêu nhận xét, anh Phong là người rất gần gũi, giản dị và bắt nhịp cuộc sống rất nhanh.
Trong mấy dòng văn ngắn nói về “cậu bé tên Nhạn”, mà anh vẫn có thể lột tả rất đầy đủ về tính chất, sở trường và kể cả ước mơ của cậu bé. Đặc biệt, về một câu văn: “Bà Bảng (mẹ anh Nhạn) đấu tranh sản xuất chi cũng hì”, anh Nhạn cho rằng, chữ “hì” nơi đây rất đậm đặc ý nghĩa và tính cách Quảng Nam, nhưng có tập sách lại biên tập thành chữ “cừ”, rất uổng!
Thú vị hơn cả, tại buổi tiệc của gia đình chị Lâm Thanh Phong tổ chức nhân một ngày kỷ niệm về Chu Cẩm Phong, bất ngờ chúng tôi gặp một người khách có tên Lộc (BS Phạm Hữu Lộc, hiện là Trưởng khoa Răng-hàm-mặt Bệnh viện C Đà Nẵng) nói rằng, tác phẩm NKCT chính là một hồi ức vô cùng quý giá, gắn liền với thời niên thiếu của anh.
Qua đó, anh giống như nhìn thấy, đi lại hầu hết trên những chặng đường Chu Cẩm Phong đã trải qua. Anh dẫn chứng những trang viết anh rất tâm đắc như: Thứ tư 26-2 (1969): “Chú Lộc 14 tuổi rất thích chơi đàn. Ngủ dậy, ăn cơm sáng xong, chui vào hầm nổi, thắp đèn, lấy đạn AR15 tháo mũi đốt (đạn mẽo ngoài ruộng đi hốt về) ai cũng la, cậu ta chỉ cười. Đến lúc cô Mai vào bảo, “đây là ý thức tổ chức” cậu ta mới thổi đèn bò ra, cười ngượng nghịu vừa thú vị vừa biết lỗi”. (Anh Lộc ghi chú đó là những ngày đầu năm 1969 tại xã Điện An, Điện Phước).
Hoặc ở một lá thư gửi “Anh Thọ”, có đoạn “Lý tức con ông Ký đi miền Bắc có nói em của anh cũng đi rồi. Hắn gửi lời chúc anh khỏe”. Lúc này, anh Lộc còn có tên Lý, và nhà văn còn muốn ghi chú về anh rất rõ là “con ông Ký”. Theo anh Lộc, điều quan trọng nhất là bây giờ đọc lại tập nhật ký, anh mới biết rõ hơn lý do nào đồng đội mình đã hy sinh? Hy sinh ra sao? Bao giờ? Nơi đâu? (Trong đó, có Hường - một cô bạn gái thân thiết, gắn bó với anh trong đội du kích đã bị địch giết hại dã man).
Cũng chính nhờ vậy mà suốt mấy năm qua, anh đã tìm được hài cốt và chôn cất được một số anh em đồng đội. Anh Lộc nói: “Có những người không muốn đọc lại những tập sách viết về chiến tranh, hoặc vì quá mệt mỏi, hoặc vì không muốn gợi lại đau thương... Nhưng với tôi, đôi lúc cũng cần có những phút giây nhìn lại, đối chiếu mình trong những hồi ức ấy, để thấy cuộc sống thêm phần ý nghĩa và yêu quý nó hơn”.
Thật vậy, gặp lại những gương mặt bình dị, hoặc những “cậu bé” tìm thấy tên mình trong NKCT ngày nay đã trở thành những con người thành đạt, tiếp tục cống hiến cho xã hội, đúng là niềm vui kỳ diệu(!). Tuy nhiên, tôi vẫn cứ mãi băn khoăn: hẳn rằng, còn biết bao nhiêu gương mặt khác, “đứa bé” khác đã bị xóa tên, xóa tuổi, biệt tăm trong cuộc chiến tranh khốc liệt; hoặc vẫn còn đâu đó trên những cánh đồng nắng cháy của miền quê đất Quảng, quần quật làm lụng, cày bừa và liệu ai biết được cuộc sống họ có thiếu trước hụt sau, con cái họ có học hành tử tế?
TRẦN TRUNG SÁNG

