Cơn bão trở lại của nợ công châu Âu
QTV - Những vấn đề thời sự tài chính quá "nóng" ở xứ ta thời gian qua có thể làm giảm sút sự quan tâm của người dân với những vấn đề kinh tế toàn cầu, vốn có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp với kinh tế Việt Nam. Nhưng không thể phủ nhận, khủng hoảng nợ công ở châu Âu là một bài học cho cả thế giới, trong đó có Việt Nam.
QTV - Những vấn đề thời sự tài chính quá "nóng" ở xứ ta thời gian qua có thể làm giảm sút sự quan tâm của người dân với những vấn đề kinh tế toàn cầu, vốn có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp với kinh tế Việt Nam. Nhưng không thể phủ nhận, khủng hoảng nợ công ở châu Âu là một bài học cho cả thế giới, trong đó có Việt Nam.
Nợ công lớn và chồng chéo ở Nam Âu
Sau cơn bão nợ của Hy Lạp và gói tài chính tiếp cứu lớn của khối Euro và IMF cách đây 2 năm, mới đây lại đến lượt Bồ Đào Nha rồi Ireland liên tiếp bị giảm thấp mức tín nhiệm quốc tế rồi các gói cứu trợ quốc tế khẩn cấp, nhắc nhở trở lại món nợ công chung của các nước Nam Âu châu được báo chí quốc tế gọi là nhóm "PIGS" (Portugal, Ireland, Greece và Spain). Những sự kiện này lại làm dấy lên mối lo ngại về nợ công quốc tế cho từng quốc gia cũng như sự ổn định của thị trường tài chính toàn cầu.
Vì tính cách quan trọng của vấn đề, bài này sẽ dựa trên các số liệu Bloomberg trên Internet về nợ công và chồng chéo của các nước có vấn đề ở Nam Âu, các giải pháp có thể bàn đến cũng như tác động lên việc duy trì khối Euro và ảnh hưởng đến nền kinh tế tài chính thế giới. Từ đó, thử rút ra vài bài học có thể cho vấn đề nợ công liên hệ đến chính sách đầu tư công quá lớn đang được dùng ở Việt Nam.
Hình kèm đây chỉ rõ các món nợ khổng lồ của các nước phia Nam châu Âu đối với 3 cường quốc châu lục là Đức, Pháp và Anh, và cả các món nợ chồng chéo với nhau.
Trước hết là Hy Lạp đã được biết đến rộng rãi với món nợ 236 tỷ USD, quan trọng nhất là gồm nợ Pháp 75 tỷ, Đức 45 tỷ và Anh 15 tỷ. Tuy nhiên còn chưa thấm với 2 nước láng giềng là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và nước sau cùng vừa trải qua khủng hoảng do món nợ đó.
Tây Ban Nha có món nợ tổng cộng là 1.100 tỷ USD, tức hơn 4 lần món nợ Hy Lạp, bao gồm 238 tỷ với Đức, 220 tỷ với Pháp và 114 tỷ với Anh. Nước này đang có tỷ lệ thất nghiệp là 20% và có nền kinh tế gần như yếu nhất châu lục.
Bồ Đào Nha có món nợ tổng cộng là 286 tỷ USD, bao gồm 1/3 là nợ Tây Ban Nha (86 tỷ), rồi đến nợ Đức 47 tỷ, Pháp 45 tỷ và Anh 24 tỷ; nhưng Tây Ban Nha cũng nợ chéo lại là 28 tỷ. Hy Lạp cũng nợ Bồ Đào Nha gần 10 tỷ.
Ngoài ra, cũng đáng để ý là Ý có món nợ lớn tới 1.400 tỷ USD và Ireland nợ 867 tỷ USD, và cả hai đều mang nợ lớn với 3 nước Đức, Pháp và Anh. Không ngạc nhiên khi Ireland vừa bị xếp vào tình trạng "báo động nợ".
![]() |
| Nguồn: Bank for International Settlements (Internet) |
Chuyện gì sẽ xảy ra cho khối Euro?
Từ nỗ lực cứu Hy Lạp rồi mới đây Bồ Đào Nha và Ireland đã dấy lên một làn sóng sợ hãi cho rằng một cuộc khủng hoảng nợ công tương tự có thể xảy ra tại nhiều nước lân cận và gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với phục hồi kinh tế toàn cầu, còn đang mong manh dù sau hơn 2 năm, và thị trường tài chính thế giới.
Cuộc khủng hoảng kinh tế mới so với khủng hoảng của châu Á
Cuộc khủng hoảng diễn ra tại ba nước Nam Âu làm cho chúng ta nhớ lại khủng hoảng châu Á diễn ra vào năm 1997-1998, bắt nguồn từ Thái Lan sau đó lan sang Hàn Quốc và Indonesia. Tuy nhiên, sự giống nhau chỉ giới hạn ở bản chất của sự lây lan và các khoản nợ bên ngoài.
Ngoài ra, còn có nhiều sự khác nhau giữa cuộc khủng hoảng mới tại châu Âu so với cuộc khủng hoảng hơn 10 năm trước tại châu Á:
- Các khoản nợ từ cuộc khủng hoảng cũ gần như là nợ tư, ngắn hạn, trong khi các khoản nợ hiện nay của châu Âu là các khoản nợ công trung và dài hạn với quy mô lớn hơn rất nhiều so với khoản nợ trước;
- Tổng các khoản nợ trong cuộc khủng hoảng châu Á là 40 tỷ USD trong khi đó ước tính ban đầu của các khoản nợ tại 3 nước châu Âu lên tới 400-450 tỷ USD (riêng gói cứu trợ cho Hy Lạp lên tới 147 tỷ USD), gấp hơn 10 lần so với quy mô nợ tại châu Á;
- Những nỗ lực cứu chữa cuộc khủng hoảng châu Á tuy rất khó khăn nhưng được khởi động nhanh chóng từ các chương trình của riêng IMF và được sự đồng tình chấp thuận từ các nước tham gia;
- Trong khi đó, chương trình cứu trợ của EU-IMF thực hiện dưới sự phản kháng quyết liệt từ phía người dân ba nước Nam Âu, điều này tạo nỗi lo cho các định chế quốc tế và các nước trợ giúp về tính khả thi của lập trình chính sách chữa trị. Sự chi tiêu bừa bãi cũng như sự nhập nhằng trong số liệu tài chính và nợ công nhằm vội vã thực hiện đủ tiêu chí gia nhập vào cộng đồng châu Âu của Hy Lạp và Bồ Đào Nha được coi như nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng như hiện nay;
- Điều phi lý là chỉ trong thời gian ngắn trước đây, khó tin được là một số nước châu Âu sẽ có ngày chấp nhận các biện pháp cứu trợ hà khắc của IMF. Sự hy sinh và gian khổ cần có khó có thể được chấp nhận từ phía người dân châu Âu. Do vậy, sự cứu trợ chắc chắn sẽ dài hơn, khó khăn hơn và cần huy động vốn nhiều hơn.
Liệu Đức và Pháp đủ sức hay bằng lòng ra tay cứu cả khối Euro?
Trong khi gói cứu trợ các nước châu Á chỉ có từ IMF, thì cuộc khủng hoảng tại châu Âu lớn hơn rất nhiều và cần sự hỗ trợ to lớn từ phía các nước châu Âu giàu có khác như Đức, Pháp nếu muốn duy trì cộng đồng này và đồng tiền chung Euro.
Ngoài sự do dự lớn của Đức, gói nợ quá lớn của các đối tác khác trong châu lục cho thấy chính nền kinh tế của họ sẽ bị đe dọa lớn, và điều này có thể làm chính Đức muốn rút lui ra khỏi khối Euro.
![]() |
| Nợ công đã trở thành nỗi ám ảnh ở châu Âu. |
Liệu các nước mang nợ lớn có thể tiếp tục ở lại trong khối Euro lâu dài?
Thất thu tài khóa của Hy Lạp hiện tương đương với 13% GDP. Muốn giảm xuống mức đòi hỏi khoảng 3% GDP, họ phải tăng thuế và cắt chi tiêu công tương đương với 10% GDP trong vài năm tới: một gánh điều chỉnh không thể kham nổi với tỷ lệ thất nghiệp đã cao hiện nay là 10%.
Ngoài ra với cán cân nhập siêu hàng hóa đang là 15% của GDP, Hy Lạp không thể sớm giảm nhập khẩu hay tăng xuất khẩu khi họ không có được chính sách tiền tệ lẫn tỷ giá độc lập với tính cách thành viên khối Euro và dùng chung đồng tiền Euro. Thời gian để điều chỉnh chính sách sẽ rất dài hay gần như không thể được.
Một số chuyên gia quốc tế, như Martin Feldstein, đề nghị các nước mang nợ như Hy Lạp có thể tạm rút ra khỏi khối Euro trong ít năm và dùng trở lại đồng tiền riêng của mình là Drachma với tỷ giá mới là 1 Euro = 1.3 Drachmas (tức là chấp nhận phá giá tiền nội tệ riêng của mình 30% so với tiền Euro) để có được chính sách điều chỉnh và cạnh tranh hàng hóa hữu hiệu hơn nhằm sớm thu hẹp cả hai mối thất thu: ngân sách và nhập siêu. Sau độ vài năm lúc tình hình cải thiện trở lại, Hy Lạp có thể trở lại khối Euro.
Tuy nhiên các nước thành viên có thể chống lại giải pháp giúp Hy Lạp cải cách như trên vì các nước như Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có thể bắt chước như vậy. Nước cờ lưỡng nan cho các thành viên giàu có của khối Euro là ở chỗ đó: cứu trợ toàn diện cho Hy Lạp hay Bồ Đào Nha thì không kham nổi và cho phép tạm rút ra thì sợ mối đoàn kết toàn khối sẽ lung lay. Sự kiện này sẽ ảnh hưởng sâu đậm đến nền kinh tế toàn cầu.
Ảnh hưởng tới nền kinh tế và tài chính thế giới
Trước tiên, có thể thấy sự phục hồi kinh tế ở khu vực châu Âu sẽ chậm hơn và khá khiêm tốn khi mà Đức và Pháp sẽ phải chia sẻ gánh nặng lớn từ gói cứu trợ những thành viên khó khăn trong cộng đồng do vậy nguồn lực cho những chính sách tài khóa trong nước họ sẽ ít hơn;
Đặc biệt lúc này khó loại trừ trường hợp cơn khủng hoảng nợ các xứ Nam Âu có thể lan rộng thành một cuộc khủng hoảng tài chính thế giới mới do sự vỡ nợ của thị trường tài chính Âu châu với các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit Default Swap-CDS). Các hợp đồng này là các giấy tờ bảo hiểm có giá thường được mua bởi các nhà đầu tư tài chính cho trường hợp vỡ nợ của các trái phiếu, cũng sẽ xuống giá nặng nếu thị trường cho là các nước phát hành trái phiếu ban đầu cùng không đủ sức chi trả nợ công.
![]() |
Nhiều nhà phân tích quốc tế đã kết nối cơn khủng hoảng nợ công hiện tại với đợt đầu của mối lo CDS, giống hệt như sự đổ vỡ của món nợ 7 nghìn tỷ USD của thị trường cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ phát hiện vào giữa năm 2007 đã gây nên cơn đại họa tài chính không lường được cho Mỹ đúng một năm sau, vào giữa năm 2008, tiếp nối bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tương tự, thị trường CDS hiện tại được ước tính ở mức trên 20,000 tỷ CDS, tức là trị giá gấp 3 lần thị trường thế chấp BĐS dưới chuẩn của Mỹ, nếu gây phá sản lan rộng sẽ có tác động lớn hơn cả cuộc khủng hoảng tài chính thế giới mới đây.
Những lưu ý cho Việt Nam
Với cơ cấu sản xuất hiện có luôn đưa đến nhập siêu cao và từ đó áp lực thường trực trên cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá, đã đến lúc Việt Nam phải nghĩ đến việc tái cấu trúc nền kinh tế để giải quyết vấn đề nhập siêu khi có tốc độ tăng trưởng bền vững hơn. Các nền kinh tế khác ở Đông Á, sau khi có cùng vấn đề nhập siêu và thất thu cán cân vãng lai cao ở một, hai thập niên đầu của chu kỳ tăng trưởng nhanh, thường đạt được mức xuất siêu đáng kể. Sau đó, có tăng trưởng bền vững do không bị áp lực của cán cân thanh toán và còn có thể tăng nhanh quỹ dự trữ ngoại hối như một gối dựa (cushion) tài chính vững chắc.
Ngoài ra, khủng hoảng nợ tại châu Âu đang làm thức tỉnh toàn thế giới về nhu cầu duy trì tính ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường thắt chặt hoạt động tài khóa để giảm bớt nợ công nếu không thật cần thiết cho nhu cầu tăng trưởng bền vững.
Việt Nam cũng không là trường hợp ngoại lệ trong việc cần áp dụng thêm kỷ luật tài khóa, đặc biệt trong bối cảnh của món thất thu kép (twin deficit) càng ngày càng lớn trong cán cân tài khóa và cán cân ngoại thương. Đặc biệt là với tình hình rối ren hiện tại của VND so với USD và sự khó khăn bán trái phiếu chính phủ ở thị trường trong và ngoài nước.
Khi nói về nợ công, trước hết cần duy trì và thông báo các số thống kê đầy đủ và chính xác hơn về các món nợ này gồm nợ của chính phủ và của cả các xí nghiệp công do chính phủ bảo lãnh.
Mới đây con số tổng nợ công được thông báo đã tăng rất nhanh lên mức 44,6% của GDP cho năm 2010. Và con số này cần làm VN thận trọng hơn khi cứu xét các dự án đầu tư công "hấp dẫn". Mặc dù nguồn tài trợ là nợ công, dù là với điều kiện ưu đãi của nợ ODA hay nợ thương mại, vài vấn đề cần được cứu xét ưu tiên là:
- Vấn đề thêm nợ công để chi tiêu công ở mức lớn như vậy đã được xét đến kỹ lưỡng trong bối cảnh tỷ lệ đầu tư quá cao so với GDP (trên 42%) của Việt Nam, hay nói cách khác là với hệ số ICOR rất cao của Việt Nam từ nhiều năm (hàm ý hiệu quả đầu tư vốn rất thấp)?
- Đành rằng đầu tư cho các dự án này rất cần thiết cho vấn đề phát triển, nhưng đã có làm các nghiên cứu khác so sánh hiệu quả đầu tư của một dự án nào đó đang xét với thí dụ của vài dự án căn bản khác cùng số vốn lớn?
- Sau nữa, đã tính kỹ các phương án tài trợ và ảnh hưởng lên tổng nợ công cho các dự án mới chưa, so với hiệu quả kinh tế của dự án ra sao, và tác động lên các cân bằng kinh tế vĩ mô ra sao cho 5 năm tới?
- Đặc biệt cho vấn đề nợ công, đây là lúc cần xem lại vấn đề định nghĩa nợ công và thống kê chính xác, giải quyết sự khác biệt giữa công bố tỷ lệ nợ/GDP là 41% về phía Việt Nam và cùng tỷ lệ tính bởi Ngân hàng Thế giới là 47% cho năm 2009. Ngoài ra ảnh hưởng của các dự án lớn đang xét lên tỷ lệ nợ trên cần xét đến cho 20-30 năm tới cũng như khả năng chi trả của VN, trong đó cần xem vấn đề thực tế là tổn phí có thể tăng 25%-50% vượt dự tính ban đầu trong thời gian dài thực hiện dự án.
Theo vef.vn


