Cô Tô, mùa “vàng trắng”
Mùa sứa chỉ kéo dài 3 tháng, từ tháng 2 tới cuối tháng 4 dương lịch, nhưng ngần ấy thời gian đủ để thay đổi đáng kể đời sống nhiều người dân huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh). Nhưng để sứa không quay lại với biển, Cô Tô vẫn còn nhiều việc phải làm…
Mùa sứa chỉ kéo dài 3 tháng, từ tháng 2 tới cuối tháng 4 dương lịch, nhưng ngần ấy thời gian đủ để thay đổi đáng kể đời sống nhiều người dân huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh). Nhưng để sứa không quay lại với biển, Cô Tô vẫn còn nhiều việc phải làm…
Những trại sứa bên bờ biển
Đi dọc bở biển ở xã đảo Thanh Lân, có thể nhìn thấy hàng chục xưởng sứa chạy dọc theo bãi biển. Cuối mùa, nhưng công việc ở đây vẫn chưa bớt phần tấp nập. Hàng ngàn lao động đang khẩn trương sơ chế những thuyền sứa được chuyển lên bờ. Ông Mai Công Đàm – Chủ tịch xã Thanh Lân, cho hay, năm nay, sản lượng sứa thấp, nhưng người làm sứa Thanh Lân nói riêng và Cô Tô nói chung không “mất mùa”, bởi giá sứa cuối vụ cao gấp 4 – 5 lần đầu vụ, lên tới 22 – 23 nghìn đồng. “Có thể nói, chưa năm nào thu nhập từ sứa của người Thanh Lân cao như năm nay” – ông Đàm vui vẻ bình luận.
![]() |
Vào mỗi đận trời chuyển từ rét sang ấm, sứa về rất nhiều. Trước đây, thời tiết nắng ấm, sứa nở trôi vào các bãi biển, mắc cả vào cồn đá, trôi vào tận bến Bạch Đằng, nhưng không có ai đánh bắt vì nghĩ sứa độc, ăn sứa có thể tử vong. Chỉ 5,6 năm trở lại đây, khi bạn hàng từ Trung Quốc sang tìm mua sứa, nghề đánh bắt, chế biến sứa mới có cơ hội phát triển. Thế là vào mùa sứa, nhà nào cũng lại tất bật chuẩn bị dầu, muối, phèn chất lên tàu gắn máy ra biển vớt sứa. Sứa nổi sát mặt nước, di chuyển chậm chạp, chỉ cần vài cái vợt miệng rộng như cái mâm hoặc những lưới đánh cá thủ công (còn gọi là vàng lưới) là đã vớt được sứa.
Ông Vũ Bách Viễn (68 tuổi, nhà ở khu 4, thị trấn Cô Tô) kể, nghề “đi sứa” dù mỗi năm chỉ có 3 tháng nhưng vẫn được nhiều người lựa chọn vì nó dễ nhất trong tất cả những công việc đánh bắt ngoài biển. Chỉ cần đầu tư một chiếc tàu nhỏ, vài cái vợt lưới, đèn pha là có thể ra khơi đánh bắt sứa. “ Như nhà tôi, có 5 người, một tàu 36 mã lực, mỗi ngày trung bình bắt được 400 con sứa, thu về gần 2 triệu đồng. Sau mỗi vụ sứa, trừ chi phí cũng để ra vài chục triệu đồng” – ông Viễn khoe.
Chính vì thế, 5, 6 năm nay, nhiều gia đình Cô Tô thoát nghèo nhờ con sứa. Cô Tô được coi là “rốn sứa” với sản lượng sứa lớn gấp nhiều lần so với Thanh Hóa hay Nam Định, lại là huyện đảo sở hữa chợ cá Chiến Thắng nổi tiếng khắp vùng biển Đông Bắc, là nơi buôn bán tấp nập của tàu thuyền sau mỗi chuyến ra khơi. Người đầu tiên mở xưởng sứa ở Thanh Lân là ông Trần Thế Bảo. Giờ, cả huyện Cô Tô có gần 40 xưởng chế biến sứa, riêng ở xã Thanh Lân trước có 12 xưởng, nay còn 10 xưởng. Vào mùa, các xưởng tạo việc làm cho 100% lao động địa phương và thu hút hàng ngàn lao động từ đất liền. 3 tháng mùa sứa, thu nhập của mỗi người làm công cũng được tới 10 – 12 triệu.
Hộ ông Mai Công Đàm có 5 xưởng sứa chạy dọc bãi biển thôn 1 xã Thanh Lân, trung bình mỗi xưởng khoảng 1000m2 với đầy đủ máy móc thiết bị chế biến sứa, vốn đầu tư lên tới hàng tỷ đồng mỗi xưởng. Mỗi xưởng là một dây chuyền hoạt động khá công nghiệp: chuyển sứa từ cầu tàu vào xưởng, cắt sứa, ngâm muối, quấy sứa, đóng thùng. Sứa được tách đầu, tay ra khỏi thân từ tàu vớt, chuyển về xưởng sẽ được cắt nhỏ cho vào bể chứa quay đến khi tuột hết nhớt. Thời gian quay mau hay chóng phụ thuộc vào độ non hay già của sứa, trung bình từ 3 đến 11 giờ đồng hồ. Sau đó đến công đoạn quan trọng nhất là pha muối mỏ và phèn ngâm sứa. Chất lượng sản phẩm của các xưởng khác nhau phụ thuộc vào bí quyết pha muối và phèn này. Sứa thành phẩm đạt yêu cầu phải cứng, thân con sứa phải trong, cầm lên nhìn có ống nước di chuyển bên trong con sứa mới là sứa ngon. Sứa ngâm trong trong dung dịch muối - phèn 3 ngày có thể ăn được. Sau đó sứa được đóng vào những thùng gỗ thông loại 13 kg chờ xuất đi Trung Quốc. Cuối mùa, một thùng sứa thành phẩm được bán với giá khoảng 800.000 đồng.
Đằng sau con sứa
Để có thể có xưởng sứa quy mô, mỗi hộ phải đầu tư vào đó lượng vốn không nhỏ để xây xưởng, mua sắm thiết bị, chuẩn bị nguồn nước… Vào mùa, còn phải mua muối, phèn và các trang thiết bị cần thiết khác để phục vụ tàu vớt và hàng trăm công nhân tại xưởng. Dù mùa sứa chỉ kéo dài chừng 3 tháng, nhưng việc chuẩn bị chu đáo cho mùa sứa ngắn ngủi được các hộ gia đình chuẩn bị cả năm. Nên, nhiều chủ xưởng không khỏi trăn trở khi xưởng chỉ được cấp phép sản xuất năm một.
“Vốn còn có thể lo được cách này cách khác chứ cứ nghĩ đến việc cứ hết một vụ sứa lại lên huyện xin phép làm vụ sau, ngao ngán lắm” – một chủ xưởng giãi bày. Thế nhưng, ông Vũ Ngọc Thân, Phó Chủ tịch huyện đảo Cô Tô, lại có một cái nhìn khác. Theo ông Thân, huyện không thể cấp phép lâu dài bởi còn đang phải tìm hướng giải quyết rất nhiều vấn đề tồn tại đằng sau con sứa. Đúng là sứa giúp nhiều gia đình Cô Tô thoát nghèo, thậm chí giàu lên, nhà cao cửa rộng nhờ sứa. Nhưng các xưởng sứa mọc ngay trên những bãi cát chạy dài trên đảo, và từ những xưởng này, rác và nước thải chưa qua xử lý vẫn hàng ngày hồn nhiên đổ ra biển. “Dớt sứa độc lắm, không có con nào sống được vùng dớt sứa thải ra” – ông cho chúng tôi hay. Đến nay, huyện đang giao cho Phòng Tài nguyên – Môi trường khảo sát nghiên cứu và đề xuất hướng xử lý đối với việc quy hoạch khu vực xưởng sứa và xử lý nước thải từ các xưởng này.
Khách hàng – đầu ra duy nhất là phía Trung Quốc cũng cho thấy manh nha sự bất ổn của việc làm sứa. Đa phần các xưởng ở Cô Tô hiện chỉ biết chế biến sứa theo những bí quyết công nghệ riêng của bạn hàng. Đến nay, ý định làm sản phẩm riêng mang thương hiệu Cô Tô để phân phối cho thị trường nội địa đã manh nha, nhưng kế hoạch đó vẫn phải chờ thời gian để thành hiện thực. Ngoài bạn hàng Trung Quốc, các xưởng sứa được đầu tư tiền tỷ chưa có bạn hàng bền vững nào khác. Vì thế, nếu “đầu ra” duy nhất trục trặc, mùa “vàng trắng” ở Cô Tô có thể khiến nhiều gia đình lâm vào vụ sứa đắng. Nhìn thấy rủi ro đó, nhưng các xưởng sứa cũng như chính quyền Cô Tô chưa tìm được giải pháp nào cho vấn đề này.
Sứa đang đem đến cho người dân Cô Tô nguồn lợi lớn, như một món quà từ biển cả. Nhưng để khai thác, chế biến sứa bền vững, người dân Cô Tô đang cần cần sự đồng hành tích cực hơn nữa của chính quyền và các cấp ban ngành hữu quan…
Bách Nguyễn
