Chuyện hai người lính cũ

Bất ngờ trước cách chào đón đầy trân trọng của anh, tôi cố tìm những chi tiết trong quá khứ giữa anh và tôi để cuộc gặp gỡ tình cờ xích lại gần nhau hơn...

- Uống trà đi! Trà mộc sao suốt nguyên chất đấy!

Anh Hảo đẩy ly trà nóng về phía tôi một cách thân tình, rồi quay vào gọi vợ. Bất ngờ trước cách chào đón đầy trân trọng của anh, tôi cố tìm những chi tiết trong quá khứ giữa anh và tôi để cuộc gặp gỡ tình cờ xích lại gần nhau hơn. Thông thường người ta quý nhau phần nhiều là do những kỷ niệm tốt mang tính nhân văn. Còn tôi và anh đã một lần nói chuyện bằng súng đạn của những người lính khác nhau chiến hào. Điều đó làm cho tôi thêm ái ngại và suy tư.

- Đây! Tôi xin giới thiệu với anh: Hương, nhà tôi. Cháu này là Phượng con gái lớn nhất, là cử nhân kinh tế đang phụ việc cho mẹ. Cháu Hoa sinh viên năm cuối đại học quản trị kinh doanh. Cháu Hớn đang học đại học năm thứ nhất đại học khoa học tự nhiên. Tất cả các con tôi đi học để trở về làm việc cho nhà máy gia đình.

Anh chỉ sang tôi:

- Đây là chú Chiến, một sĩ quan quân đội nhân dân năm xưa, nay là thông dịch viên tiếng Anh trong một tổ chức phi chính phủ, người mà ba thường kể cho cả nhà nghe.

Anh Hảo đưa tay chỉ từng thành viên trong gia đình, cộng với sự trân trọng của anh làm cho tôi thêm bối rối.

- Anh Hảo phóng đại tôi thành nhân vật quan trọng rồi! Tất cả cũng vì chiến tranh thôi! Trên thế giới này, có ai thích chiến tranh, ngoại trừ những tay lái súng và buôn bán chính trị! Tôi mỉm cười giải thích với chị Hảo.

Chiều nay, vợ chồng Hảo cố gắng thuyết phục tôi ở lại nhà anh, muốn tâm sự một thời xa vắng. Phần tôi, cuộc họp với đoàn phi chính phủ đã xong. Nhiệm vụ phiên dịch của tôi đã kết thúc. Tôi xin phép trưởng đoàn ở lại. Thật tình, tôi cũng có ý định dành thời gian với anh để chia xẻ trải nghiệm những người bạn còn sống cùng thời. Nhìn nhà máy sản xuất chè của anh, cả một quy trình công nghệ khép kín, đủ chứng minh rằng anh đã trở thành một doanh nhân thành đạt. Và từ mối quan hệ các thành viên trong nhà, ai cũng có thể đoán được một gia đình Á Đông tiêu biểu, có học thức và làm giàu chính đáng. Anh Hảo đã thành công cả hai điều ấy.

Chiều Bảo Tâm xuống muộn. Xa xa lãng đãng những đám mây xốp nhè nhẹ trên những đồi chè và cà phê bạt ngàn. Bây giờ là cuối đông, cà phê đang mùa nở hoa. Những đồi hoa trắng chạy dài xa tít, tỏa mùi hương dìu dịu quyện vào cái se lạnh cao nguyên. Cũng không gian này, hơn 35 năm về trước là bãi chiến trường ngổn ngang xe pháo và lính trận. Ngày ấy, Đại hội an ninh vũ trang của tôi ngoài nhiệm vụ bảo vệ Khu ủy Khu 6, còn có một bộ phận tiếp nhận tù hàng binh do Tiểu đoàn 840 chuyển sang. Cuối năm 1974, trong trận giải phóng quận Tánh Linh (tỉnh Bình Tuy cũ), Tiểu đoàn 840 đã chuyển cho trại nhiều tù binh chiến tranh, mà ngày ấy gọi là sĩ quan, binh sĩ ngụy. Trong đó, có Đại úy Trần Phước Hảo, 28 tuổi, Chi đội trưởng Chi đội Thiết giáp của một sư đoàn bộ binh. Hảo tốt nghiệp Trường Võ bị Đà Lạt. Anh có đôi mắt xếch, có chòm râu như Nguyễn Khánh (tướng lĩnh Sài Gòn cũ). Lúc bàn giao tù binh, khi đọc đến: Trần Phước Hảo, anh nhìn chằm chằm vào mặt tôi hằn học:

- Tôi là sĩ quan! Tôi yêu cầu chuyển tôi sang phòng giam giữ sĩ quan. Xin các ông nhớ rằng: Chúng tôi là tù hàng binh, các ông phải đối xử theo Công pháp quốc tế. Nếu không, các ông cứ bắn tôi đi!
          
- Quân đội Mỹ đã tàn sát một cách man rợ những người dân vô tội tại Mỹ Lai, Quảng Ngãi; đưa B52 rải thảm Hà Nội…, có theo Công pháp quốc tế không? Việc bắn ông không khó. Nếu bắn hết những người bại trận, chúng tôi đã bắn rồi. Tôi không muốn phí một viên đạn vào một người quá ngây thơ như ông. Không nói nữa, dẫn nó đi!

Tôi rút súng ngắn bắn xuống chân anh cách 10 cm và ra lệnh cho anh em bằng giọng rít qua kẽ răng. Những ngày sau, tôi không gặp Hảo nữa. Chiến dịch ngày càng trở nên thần tốc. Đơn vị chúng tôi hàng ngày liên tục nhận tù hàng binh. Chúng tôi phải lo đối phó với thực phẩm và thuốc men cho họ hàng ngày.      

Miền Nam giải phóng, các tù hàng binh đều chấp hành tốt nội quy của trại. Tuy nhiên, tôi vẫn chú ý đến thái độ của Trần Phước Hảo. Anh có vẻ gầy đi, điềm đạm và lễ độ hơn. Mỗi lần gặp tôi, anh luôn chủ động chào hỏi một cách trân trọng. Có lẽ, anh ân hận hoặc né tránh những cuộc “chạm trán” giữa tôi và anh đầu năm 1975. Trong số trại viên được thăm nuôi, Hảo là một trong những người ít được thăm nuôi nhất. Dần dần, không còn người nào đến nữa, trừ mẹ anh, một bà cụ gần 70 tuổi ốm yếu, gầy gò. Dường như cuộc đời bà là một sự chịu đựng đến quá sức mình. Cứ độ hai tháng một lần, tôi thấy bà mang một giỏ cói, chống gậy lăn lóc đi thăm con. Từ Lạc Tánh về trại Huy Khiêm với quãng đường 5 km đầy đá nham nhở. Thỉnh thoảng vài chiếc xe (chạy bằng than) đi qua cuốn theo những đám bụi mù trời, nóng hực. Những mẩu than hồng rơi từ xe xuống văng tung tóe rồi nằm im trong kẽ đá như chờ đợi đôi chân chỉ còn da bọc xương kham khổ của bà. Mỗi lần gặp con, bà khóc nhiều hơn là động viên anh cố gắng cải tạo tốt. Nhìn đôi mắt sâu thẳm, già nua khô khốc, quay mặt vào núi Cà Tòn lau mắt của người mẹ, tôi hình dung đến những bi kịch xảy ra trong gia đình Hảo.

Năm 1980, tôi về Phan Thiết đến tận quê anh, miệt ngoại ô thị xã, một vùng quê tĩnh lặng đến mức buồn chán. Gần như mỗi nhà đều trồng me và hàng cây chùm quân làm hàng rào. Bố Hảo, ông Tú Hoàn - người có bằng tú tài Pháp. Thời trai trẻ, ông tham gia kháng chiến trong Mặt trận Việt Minh, bị quân Pháp bắn chết năm 1950. Mẹ anh không tục huyền trở thành góa phụ, dồn hết sức lực chăm lo đứa con trai độc nhất của mình. Hằng đêm, từ 4 giờ sáng, bà gồng gánh me chua, me rốt và một ít hoa quả trong vườn (lúc thì buồng chuối, lúc thì bó rau tươi…) về chợ Gò (Phan Thiết). Hảo đỗ tú tài II (hạng bình, ban toán) rồi ghi danh học đại học luật hàm thụ. Sau đó, anh thi vào Trường Võ bị Đà Lạt với mục đích thoát khỏi cảnh đời nghèo khổ cô độc hơn là ý thức chính trị. Năm 1972, anh cưới vợ, là một “hoa khôi” đậu tú tài I Trường trung học Phan Bội Châu. Sau năm 1975, chị đi buôn đường dài rồi làm “vợ hợp đồng” với một tài xế xe tải, dẫn theo đứa con gái 4 tuổi của anh. Tổ ấm cuối cùng còn lại đã mất. Trong trại, anh hoàn toàn không biết. Ngày ngày, anh vẫn mỏi mắt trông chờ gặp mặt vợ con. Nhưng chỉ có mẹ anh biết, đó là một sự chờ đợi mỏng manh, vô vọng…

Sau chuyến về Phan Thiết, tôi gặp Hảo thường xuyên hơn, nhằm mục đích làm vơi đi những trăn trở, u uất về bi kịch gia đình anh.

- Thưa cán bộ! Cán bộ cho gọi tôi! Hảo đứng trước bậc tam cấp chào tôi theo đúng tác phong quân sự, giọng nhẹ và lạc đi.

- Vâng! Mời anh vào! Tôi mỉm cười thân mật đẩy ly trà và gói thuốc lá Hoa Mai về phía anh.

Hảo đốt thuốc, từ từ nhả khói. Theo nguyên tắc của trại, phạm nhân không được vào  văn phòng của ban chỉ huy khi không có lệnh. Đây là lần đầu tiên anh được gặp một viên sĩ quan tham mưu, người đã một lần nói chuyện với anh bằng súng đạn trong chiến tranh.

- Trong chúng ta, việc gặp gỡ nhau chính thức, đây là lần thứ hai phải không anh Hảo! Tôi mở đầu câu chuyện một cách thân tình.

- Dạ! Lần trước tôi bị “xốc” quá mạnh, xin cán bộ bỏ qua!

- Thật ra, ở đời thường, nhiều thứ không công bằng. Tỷ như tôi biết về anh nhiều hơn anh biết về tôi! Tôi tiếp tục đi vào câu chuyện.

- Dạ! Lý lịch của tôi đã khai rõ! Anh thêm vào.
         
- Về tuổi tác, tôi kém anh 4 tuổi, nhưng cũng là sinh viên luật khoa Sài Gòn, cũng là một sĩ quan. Tuy khác nhau về chiến tuyến, nhưng đều là người có học, đều là sĩ quan. Chúng ta sẽ nói chuyện thoải mái với tư cách hai người lính đã không còn mùi thuốc súng!

- Dạ! Anh nhìn tôi có vẻ ngơ ngác.

Hôm ấy, cuộc  nói chuyện giữa tôi và anh kéo dài 4 tiếng đồng hồ. Tôi trao đổi với anh tình hình chính trị bắt đầu từ lúc thái tử Vĩnh Thụy được đưa sang Pháp du học để trở về làm vua, đến cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của cả nước. Lúc đầu, anh thấy hơi khó chịu, mím môi. Tôi biết, Trường Võ bị Đà Lạt có 8 tuần huấn nhục cho sinh viên sĩ quan năm nhất! Anh được phép hút thuốc lá theo nhu cầu. Ngày ấy, đời lính chúng tôi hút thuốc lá Hoa Mai, loại thuốc lá đen, không có đầu lọc là quý lắm rồi. Trong 4 tiếng đồng hồ, anh đốt hết 1 gói. Đôi mắt anh trở nên đăm chiêu hơn. Có lẽ anh đang trăn trở, đang cân nhắc, hoặc thăm dò, xem xét một sĩ quan Việt cộng đang độc thoại mà không biết người nghe có “tâm phục, khẩu phục”!

Việc thứ hai, tôi thông báo với anh về những khó khăn của xã hội hiện tại, về trận lũ lụt năm 1978 và cuộc chiến bảo vệ biên cương hai đầu đất nước. Và cuối cùng, là thông tin về sự cô đơn của bà Tú Hoàn và việc ra đi lặng lẽ của vợ con anh. Anh Hảo xin thêm một gói thuốc lá. Nét mặt anh đanh lại, hai hàng nước mắt chảy ra không một tiếng khóc. Đôi mắt anh trở nên vô hồn. Tôi biết anh đau lòng lắm, là một tù binh, một người lính khi đất nước đã chấm dứt chiến tranh, ai cũng muốn trở về tổ ấm của mình là gia đình, vợ con. Nhưng đối với anh, những thứ đó không còn nữa, chỉ còn mẹ già sớm chiều gánh nặng những lo âu. Những ngày kế tiếp anh lầm lì, nụ cười héo hắt…

Nhờ được xác nhận là con liệt sĩ, nên anh được trả tự do sớm. Cầm tờ giấy ra trại trong tay, anh cố tìm tôi để bắt tay từ giã. Với giọng thật buồn, anh đề nghị tôi có một lời khuyên cho anh. Và tôi đã chân tình:

- Cụ Tú Hoàn đã đóng góp xương máu để giành độc lập dân tộc. Khi trở về hội nhập với cộng đồng, anh cố gắng giữ gìn những cái vô hình và hữu hình của họ tộc Trần Phước để lại. Theo tôi, anh không nên đi tìm chị. Hãy để chị tự trở về. Nếu không, anh gặp được người đồng cảnh ngộ thì tốt hơn. Anh không nên tham gia bất kì tổ chức chính trị xấu nào để tập trung làm ăn, lo cuộc sống  bằng bàn tay và trí tuệ của mình. Đất nước đã hòa bình, thống nhất, ở đâu cũng là quê hương…

Hôm ấy, trời mưa dầm, đôi bàn tay chai sạn còn mùi thuốc súng của hai người lính khác nhau chiến tuyến đã nắm lại truyền hơi ấm cho nhau. Lúc này, trên đôi má rám nắng của anh đọng lại những hạt nước lóng lánh. Có lẽ đó là những giọt nước mắt cuối cùng của người đàn ông đầy tâm sự! Tôi ra quân, tiếp tục đi học đại học. Chúng tôi biệt tin nhau từ đó…

… Buổi tối ở Bảo Tâm trời se lạnh êm ả. Anh Hảo đưa tôi chiếc áo khoác màu ghi quàng tạm. Vợ anh đang chuẩn bị bữa tiệc cho hai người lính cũ. Anh Hảo dẫn tôi vào bàn thờ tổ. Bên trên là tấm bằng Tổ quốc ghi công của ba anh do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký. Cả căn phòng khói hương nghi ngút…

“Gặp được anh, tôi mừng lắm” – Anh cất giọng tâm sự. Đêm nay hai anh em mình sẽ thức. Tôi sẽ kể vì sao tôi về Tây Nguyên. Nhà tôi, cô hoa khôi Phan Thiết đã vượt biên với đứa con gái của tôi không biết còn hay mất. Tôi đã đi nhiều nơi để hỏi thăm nhưng vẫn biệt tăm. Tôi không đi H.O. Anh cũng biết, tôi đã từng tu nghiệp ở Mỹ. Mẹ tôi, sau ngày tôi về, bà bị liệt hai chân.

Anh Chiến ạ! Lên Tây Nguyên được vài năm thì mẹ tôi mất. Trước lúc lâm chung, bà dặn rằng: “Con cứ để mẹ nằm đây, không cần phải về quê. Ở đâu cũng là quê hương mình!”. Ngày ra trại, tôi nghe anh, trở về quê. Thế nhưng chuyện đời không đơn giản tí nào. Đêm đêm trở mình, hình ảnh vợ con một thời còn đấy. Hằng ngày ra vào lặng lẽ. Thỉnh thoảng xuống phố thấy bóng mình lẻ loi cô độc, in dưới bóng đèn đường heo hắt. Đôi người còn gán cho tôi cái tên “Thằng cha đại úy ngụy vợ bỏ”. Nghe mà xót xa cay đắng quá. Trong khi nhịp sống xã hội cứ hối hả từng ngày, còn mình ngồi đấy gặm nhấm quá khứ. Những buổi sáng nông nhàn, chúng tôi thường ngồi uống trà dưới tán lá me xanh. Nhiều người bảo rằng ở Lâm Đồng trồng trà có thể sống được. Tôi bàn với mẹ bán đi thổ đất và căn nhà. Tôi lặng lẽ cõng mẹ ra đi. Tim tôi như bị ai bóp lại. Trên lưng tôi, mẹ sụt sùi khóc. Anh biết! Bước chân đi, tôi chốc chốc nhìn lại cho đến khi chỉ còn là một màu xanh nhạt nhòa.

Lên Lâm Đồng, tôi mua được 2 ha chè và một căn nhà gỗ xiêu vẹo. Xung quanh là núi đồi với những cơn gió cao nguyên hắt hiu, lạnh lẽo. Mẹ tôi cứ ngồi co ro nhìn về hướng Phan Thiết, thỉnh thoảng chép miệng thở dài… Ngày ấy, chè cành mới trồng thử nghiệm. Loại chè này phát triển nhanh, cho nhiều đọt, “đầu ra” tốt, lại đúng dịp Nhà nước đổi mới cơ chế quản lý, tôi mua lại một dàn máy cũ, đổi mới một số thiết bị sản xuất thử, cho đến khi sản phẩm cuối cùng ra đời đúng ý mình. Lúc đầu sản xuất ít để thăm dò thị trường rồi sau đó tăng dần. Tôi lấy tên con gái đầu đặt thương hiệu là Trà Phượng Tím. Sau đó vợ chồng tôi đăng ký bản quyền, mở trang web, nên đã có nhiều công ty nước ngoài đặt hàng. Tôi đang có ý định mở rộng xưởng và thay đổi thiết bị cho phù hợp với quy mô sản xuất. “Cái khó ló cái khôn”, các cụ nhà mình thường bảo thế.

Còn Hương nhà tôi, chồng cô cũng là đại úy chế độ cũ, đã xuất cảnh đi Mỹ theo diện H.O, cũng với vợ bé, bỏ lại cô và đứa con gái bốn tuổi - cháu Phượng bây giờ. Hương là dân gốc Đà Lạt. Ngày chồng bỏ, cô dẫn con xuống Bảo Tâm hái chè thuê rồi thu mua chè tươi cho tôi. Là người cùng cảnh ngộ, chúng tôi đến với nhau một cách tự nguyện. Tôi yêu thương cháu Phượng như đứa con đầu lòng của mình. Năm ngoái, chồng cũ của Hương từ Mỹ về một mình. Trông anh chàng mập trắng và bệ vệ lắm, mái tóc bạc phếch, đôi mắt lúc nào cũng trầm tư u uất. Hai tuần ở đây anh ta không một nụ cười. Anh nói với tôi bằng tiếng Anh pha lẫn tiếng Việt: “Tôi là người định cư ở nước  ngoài. Tôi nghiệm ra rằng, con người ta cần có nước, có nhà và có vợ!”. Anh ấy nói bên Mỹ, anh không có Tổ quốc, ở nhà chung cư trả góp, vợ đã ly dị, con cái không nghe lời. Anh có ý định bảo lãnh cháu Phượng sang Mỹ để bớt hội chứng stress trong những năm cuối đời, nhưng cháu từ chối. Cuối cùng anh cho cháu 3.000 USD để mua một chiếc Spasy của Nhật, nhưng cháu chỉ lấy đủ tiền mua một chiếc xe Super Dream làm vật kỷ niệm của bố đẻ. Thế là anh thất vọng trở về Mỹ. Ngày tiễn anh đi, tôi tự lái xe nhà chở vợ con tôi, những người mà một thời từng là của anh, ra đến tận phi trường. Cho đến cách đây một tuần, anh điện thoại về gặp tôi tỏ lời cảm ơn về việc đón tiếp với âm sắc ngậm ngùi, xót xa của một người xa xứ ở tuổi lục tuần. Anh thấy đấy! Đồng tiền và tiện nghi vật chất đâu phải là tất cả!

Nhưng thôi, chiến tranh đã kết thúc lâu rồi. Chúng ta sống trong một đất nước thanh bình đổi mới và hội nhập toàn cầu. Tôi và anh, những người lính năm xưa khác nhau chiến hào, nay ngồi chung trong một căn nhà ấm cúng, kể cho nhau nghe chuyện riêng tư của đời mình là hạnh phúc lắm rồi. Tình bạn của chúng ta giống như triết lý về trà. Lúc đầu trà vừa nóng vừa chát, màu nước vàng ngầu lợn cợn đủ tạp chất, tưởng chừng như không thể uống được. Thế nhưng thời gian sẽ làm cho nước trở nên sóng sánh. Vị trà vừa có hậu, vừa có mùi hương. Cái tình là ở đó, cái hồn là ở đó. Điều ấy chỉ dành riêng cho những người biết thưởng thức.

Anh Chiến ạ!  Nhà tôi cũng như nhà anh. Khi nào anh đưa chị lên chơi và tôi sẽ chở vợ tôi xuống thăm anh chị để biết nhà. Chúng mình là những người có nước, có nhà và có vợ con anh Chiến nhỉ!
Truyện ký: Trần Đại