Chuyển đổi, thích ứng, phát triển bền vững nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV
Ngày 27/03, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Tọa đàm “Nông thôn Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới: Chuyển đổi, thích ứng và phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng”.
Tham dự tọa đàm có các nhà khoa học, nhà quản lý và chuyên gia đầu ngành như GS.TS. Hoàng Anh Tuấn – Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN; TS. Cao Đức Phát – nguyên Bộ trưởng NN&PTNT; TS. Nguyễn Tiến Dĩnh – ĐBQH Khóa XII, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ; Thiếu tướng, GS.TS. Nguyễn Văn Tài – Nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng; PGS.TS. Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội; PGS.TS. Mai Quỳnh Nam – Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; PGS.TS. Đào Thế Anh - Nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam; GS.TS. Nguyễn Tuấn Anh - Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN…

Tọa đàm là diễn đàn học thuật trao đổi, thảo luận về những vấn đề trọng tâm về phát triển nông nghiệp (NN), nông dân (ND), nông thôn (NT) Việt Nam trong kỷ nguyên mới, đồng thời gợi mở các khuyến nghị chính sách cho các Trung ương, bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp, người dân… Một số định hướng thảo luận chính gồm: Nhìn nhận NT Việt Nam như một không gian xã hội đang trong quá trình tái cấu trúc, phân tích biến đổi kinh tế NT và các chiến lược sinh kế của người dân, đổi mới quản trị NT trong bối cảnh xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp, sự biến đổi cơ cấu dân số và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực NT đáp ứng Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số, vai trò của văn hóa làng xã trong phát triển bền vững NT.
Tinh thần Nghị quyết XIV về phát triển NN, ND, NT
Phát biểu khai mạc, GS.TS. Hoàng Anh Tuấn - Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN cho biết: Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, NT luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển đất nước. NT không chỉ là địa bàn cư trú theo nghĩa nhìn thấy trực quan mà còn là nền tảng sản xuất và đảm bảo đời sống kinh tế xã hội lâu dài, lâu đời.

Trong thập kỷ vừa qua, khi triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NT mới, diện mạo NT đã chuyển biến rõ rệt, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội từng bước được hoàn thiện, kể cả các vấn đề rất thiết yếu như điện, nước, trường học, các thiết chế văn hóa xã hội,…đều được cải thiện rất nhiều.
Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đạt được, NT Việt Nam hiện nay đứng trước rất nhiều thách thức. Đơn cử, bối cảnh trình chuyển đổi, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hội nhập quốc tế đang làm thay đổi rất nhanh cấu trúc kinh tế xã hội ở rất nhiều các vùng NT; sự dịch chuyển cơ cấu lao động mà xu hướng rõ ràng là di cư từ NT ra đô thị, thu hẹp diện tích sản xuất; cùng với các tác động phi truyền thống như biến đổi khí hậu. Những thực tế, thách thức đó đặt ra rất nhiều vấn đề mới cần được tiếp tục nghiên cứu.
GS.TS. Hoàng Anh Tuấn cũng nhấn mạnh, sau chặng đường nghiên cứu về NT, NN, ND rất mạnh ở giai đoạn trước đó, các nghiên cứu vẫn chững lại trong khoảng 2 thập niên đầu của thế kỉ 21, mặc dù vẫn có nghiên cứu nhưng không hình thành các cụm lớn.
Trong khi đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng như các chính sách, chiến lược đã được ban hành trước đó đã đặt ra những định hướng nghiên cứu mang tính chiến lược quan trọng đối với phát triển NT, NN và ND trong giai đoạn mới. Từ các chủ trương lớn này, có thể khái quát bốn vấn đề nổi bật: Tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể của người ND trong quá trình phát triển NN và NT; yêu cầu phải chuyển đổi mô hình phát triển NN theo hướng hiện đại, hiệu quả bền vững từ tư duy sản xuất NN sang phát triển kinh tế NN; Định hướng phát triển NN NT gắn với bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên; Hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, đảm bảo sự phát triển hài hòa, hạnh phúc ấm no của người dân
GS.TS. Hoàng Anh Tuấn khẳng định, các quan điểm của Đại hội XIV về NN, ND và NT thể hiện tầm nhìn phát triển toàn diện, phát huy vai trò của ND, thúc đẩy kinh tế NN hiện đại, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng đời sống NT. Những định hướng này tạo nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi phát triển bền vững của khu vực NN và NT Việt Nam trong giai đoạn mới. Đặc biệt trong kỷ nguyên mới, cần nhận diện để xác định vị trí rất quan trọng của NN trong bối cảnh mới, giai đoạn mới.
Thách thức và cơ hội phát triển NT mới trong tình hình mới
TS. Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, cho biết Đảng và Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực NN, NT. Điều này xuất phát từ thực tế khoảng hai phần ba dân số Việt Nam sinh sống ở khu vực NT, cùng với những ý nghĩa quan trọng về kinh tế – chính trị – xã hội. Các văn kiện mới nhất của Đảng tiếp tục khẳng định rõ những chủ trương, định hướng lớn đối với lĩnh vực này.

Cụ thể, Nghị quyết 19 của Ban Chấp hành TW khóa XIII về NN, ND, NT đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 xác định: Xây dựng NT hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, văn minh; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; môi trường xanh, sạch, đẹp. Đời sống văn hóa lành mạnh, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Đại hội XIV có nhắc lại: “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá NN, NT bền vững; phát triển các hình thức tổ chức sản xuất hiện đại trong NN; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp, dịch vụ với NN; phát triển kinh tế NN, kinh tế NT gắn với xây dựng NT mới. Tập trung xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng NN, NT”.
Thời gian qua, Chương trình xây dựng NT mới đã ghi nhận nhiều thành tựu tích cực. Nhận thức của người dân và xã hội về phát triển NT được nâng lên rõ rệt, từng bước khắc phục tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, đồng thời tạo nên một phong trào rộng khắp. Bộ máy chỉ đạo, cơ chế, chính sách khá toàn diện, đồng bộ, triển khai thực hiện khá bài bản, có quy hoạch, kế hoạch. Cơ sở hạ tầng NT được cải thiện căn bản như đường giao thông, thủy lợi, điện, trường học, bệnh xá, cơ sở văn hóa - thể thao, chợ NT, trụ sở xã, hệ thống thông tin. Sự phát triển liên tục của NN và kinh tế NT được duy trì với tốc độ khá cao.
Đồng thời, khoảng cách về thu nhập giữa NT và thành thị giảm tương đối, cùng với nâng cao nhanh thu nhập, giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo ở NT. Bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được quan tâm gìn giữ, bảo vệ. Cùng với đó là giữ vững an ninh trật tự, ổn định xã hội, phát huy dân chủ ở NT; củng cố hệ thống chính trị, nâng cao vai trò và uy tín của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể xã hội ở NT.
Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định. Đơn cử, một số lượng lớn xã (1768 xã, 22%) chưa đạt tiêu chí NT mới có nơi đạt tiêu chí hình thức. Việc phát triển còn thiên về hạ tầng, trong khi nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và đời sống hiện đại, thiếu cơ chế duy tu thường xuyên nên bị xuống cấp. Kinh tế NT chưa đủ sức tạo việc làm và thu nhập cho lao động NT dẫn đến tình trạng bỏ ruộng, bỏ làng, di cư ồ ạt ra các thành phố. Văn hóa NT bị xáo trộn, bản sắc văn hóa dân tộc bị lai tạp.
Môi trường NT bị ô nhiễm ngày càng nặng nề, tỷ lệ lớn đất đai bị thoái hóa, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu thấp, phát thải khí nhà kính cao. Nguồn vốn ngân sách hỗ trợ Chương trình giảm và bị phân tán. Một số chính sách không hiệu quả nhưng chậm điều chỉnh….
Khuyến nghị giải pháp cho NN khi vận hành mô hình chính quyền 2 cấp
Thiếu tướng, GS.TS Nguyễn Văn Tài, nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng) cho rằng, trong bối cảnh xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, khu vực NT đang đối mặt với nhiều khó khăn và bất cập cần được nhận diện rõ.

Những thách thức này thể hiện qua hàng loạt mâu thuẫn. Trước hết là mâu thuẫn về không gian quản lý khi “tỉnh xa, xã rộng”, trong khi quy mô cấp xã mở rộng, chức năng nhiệm vụ gia tăng nhưng năng lực cấp xã còn hạn chế.
Về con người, bộ máy vừa rơi vào tình trạng “vừa thừa vừa thiếu”, cần sự ổn định nhưng cán bộ lại luân chuyển nhanh để đáp ứng nhiệm vụ mới. Trong điều hành, thông tin từ cấp tỉnh xuống cơ sở có thể nhanh, song chiều phản hồi từ cơ sở lên lại chậm, thiếu tính thực chất. Nguồn lực vật chất và tài chính cũng tồn tại nghịch lý: có nơi dư thừa, lãng phí nhưng ở nơi khác lại thiếu hụt. Bên cạnh đó, cải cách thể chế hành chính đòi hỏi duy trì ổn định xã hội, trong khi sự phát triển giữa các địa phương còn chưa đồng đều, cùng với những biến đổi về địa danh và văn hóa cộng đồng khi sắp xếp lại đơn vị hành chính.
Từ thực tiễn đó, ông đề xuất một số nhóm giải pháp trọng tâm. Về thể chế, cần hoàn thiện mô hình chính quyền hai cấp theo hướng phân quyền thực chất, đồng thời rà soát, thiết kế lại chức năng, nhiệm vụ phù hợp. Cùng với đó là đổi mới cơ chế tài chính, đầu tư và phân bổ ngân sách, gắn với việc tái sử dụng hiệu quả tài sản công, cần thiết lập cơ chế tiếp nhận và xử lý phản hồi của người dân một cách nhanh chóng, minh bạch.
Về nhân lực, giải pháp là cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng lại đội ngũ cán bộ, công chức nhằm nâng cao năng lực quản trị hiện đại, đồng thời xây dựng chính sách luân chuyển hợp lý. Về công nghệ, cần đẩy mạnh xây dựng nền tảng chính quyền số ở cấp xã, tăng cường kết nối giữa chính quyền với người dân. Bên cạnh đó, việc tái cấu trúc không gian hành chính cần đi đôi với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng, củng cố các thiết chế văn hóa cơ sở.