Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị
Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khẳng định vị trí của thành phố Đà Nẵng đối với miền Trung, Tây Nguyên và cả nước; đánh giá khái quát tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố và Nghị quyết Đại hội IX trong nửa nhiệm kỳ qua; định ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố đến năm 2010 và 2020.
|
THÀNH ỦY ĐÀ NẴNG Số 16 -CTr/TU |
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đà Nẵng, ngày 19 tháng 11 năm 2003 |
|
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG |
Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khẳng định vị trí của thành phố Đà Nẵng đối với miền Trung, Tây Nguyên và cả nước; đánh giá khái quát tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố và Nghị quyết Đại hội IX trong nửa nhiệm kỳ qua; định ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố đến năm 2010 và 2020.
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị, BCH Đảng bộ thành phố ban hành Chương trình hành động tổ chức thực hiện Nghị quyết như sau:
A- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CHUNG
1- Phát huy tiềm năng và lợi thế so sánh, tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh các ngành sản xuất, du lịch, dịch vụ, xuất khẩu; xây dựng thành phố phát triển tương xứng với tầm vóc là trung tâm kinh tế - xã hội của khu vực miền Trung, có tác động lan tỏa đối với sự phát triển của các tỉnh lân cận, Tây Nguyên và với cả hành lang kinh tế Đông - Tây, tiểu vùng Mê Kông.
2- Tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với phát triển văn hoá, văn học-nghệ thuật, giải quyết tốt các vấn đề xã hội; kết hợp đầu tư của Nhà nước với xã hội hoá để đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, y tế, thể thao; từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
3- Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
4- Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, gắn xây dựng Đảng với cải cách hành chính, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng bộ và sự đồng thuận trong xã hội vì mục tiêu xây dựng và phát triển thành phố.
B- CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
Để triển khai toàn diện Nghị quyết, BCH Đảng bộ thành phố đề ra 12 Chương trình hành động trọng tâm nhằm tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện từ nay đến năm 2010 như sau:
Chương trình 1: Đẩy mạnh công tác quy hoạch, tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng một cách đồng bộ, xây dựng thành phố theo hướng văn minh, hiện đại.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
a) Rà soát và điều chỉnh quy hoạch kinh tế - xã hội, quy hoạch không gian đô thị, quy hoạch ngành đến năm 2010, 2020 phù hợp với nội dung Nghị quyết 33-NQ/TW. Xây dựng quy hoạch sử dụng khu vực bán đảo Sơn Trà, Hải Vân, sân bay Nước Mặn phục vụ phát triển kinh tế - văn hóa - du lịch - dịch vụ gắn với quốc phòng - an ninh. Trên cơ sở quy hoạch, tiếp tục đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội một cách đồng bộ. Tăng cường quản lý thực hiện và điều chỉnh kịp thời quy hoạch nhằm nâng cao hiệu lực thực hiện quy hoạch; xây dựng thành phố phát triển theo hướng văn minh, hiện đại, tương xứng với tầm vóc là đô thị loại I cấp quốc gia, trung tâm kinh tế - xã hội của miền Trung.
- Phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành TW sớm ra quyết định đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm, thúc đẩy sự phát triển của thành phố và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung như Nghị quyết 33-NQ/TW đã xác định: đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, đường Đà Nẵng - Hội An; nâng cấp mở rộng ga hàng không quốc tế Đà Nẵng; cảng Liên Chiểu; đường sắt 2 chiều Đà Nẵng - Quảng Ngãi; làng Đại học Đà Nẵng; khu liên hợp thể thao, khu công nghệ cao, các viện nghiên cứu khoa học chuyên ngành; di dời ga đường sắt, kho vũ khí, kho xăng dầu...
b) Xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội để đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
- Chủ động phối hợp với các ban, bộ, ngành TW và các tỉnh trong khu vực xây dựng cơ chế, chính sách phát huy vai trò hạt nhân, động lực của thành phố trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng; vai trò trung tâm phối hợp hoạt động giữa các địa phương để khai thác tiềm năng thế mạnh của vùng.
- Xây dựng các phương án trình Chính phủ phê duyệt thí điểm thực hiện một số cơ chế mới đối với những vấn đề mà thực tiễn thành phố đặt ra nhưng chưa có quy định hoặc đã quy định nhưng không còn phù hợp để tạo động lực, nguồn lực cho phát triển thành phố.
c) Huy động các nguồn lực địa phương và Trung ương cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Phối hợp các ngành TW ổn định tỉ lệ điều tiết ngân sách cho thành phố; đồng thời tranh thủ đầu tư thông qua các chương trình có mục tiêu theo dự án đối với các công trình cơ sở hạ tầng quan trọng do thành phố quản lý.
- Xây dựng quy trình chặt chẽ để đẩy mạnh các dự án tạo vốn từ quỹ đất; xây dựng và triển khai phương án thí điểm bán nhà gắn với quyền sử dụng đất đối với người nước ngoài có tham gia đầu tư hoặc thường trú lâu dài tại Việt Nam.
- Xây dựng kế hoạch và triển khai việc phát hành trái phiếu đô thị cho đầu tư một số công trình quan trọng.
- Xác định một số dự án có tính khả thi cao, có yêu cầu đầu tư nhanh trình Trung ương cho vay vốn từ nước ngoài để đầu tư.
* Chương trình này do đồng chí Chủ tịch UBND thành phố phụ trách; các sở Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Giao thông - Công chính, Tài nguyên - Môi trường phối hợp xây dựng; Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố tham gia; báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 6-2004.
Chương trình 2: Tập trung phát triển công nghiệp, ưu tiên đầu tư đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, phấn đấu là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Những nhiệm vụ chủ yếu:
a)- Phát triển mạnh các ngành công nghiệp - xây dựng. Chú trọng liên kết với các tỉnh bạn trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, nhằm khai thác tối đa thế mạnh của toàn vùng. Tranh thủ sự chỉ đạo của TW trong việc xây dựng và triển khai cơ chế kết hợp giữa thành phố và các tỉnh trong vùng trong việc hoạch định quy hoạch và phối hợp thực hiện quy hoạch nhằm phát huy tốt nhất lợi thế của thành phố và các tỉnh.
- Đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến hải sản, dệt may, giày da, cơ khí, điện tử, hoá chất, vật liệu xây dựng theo công nghệ hiện đại, không gây ô nhiễm môi trường, các sản phẩm có lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh cao trên thị trường, đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế, hướng mạnh về xuất khẩu. Xây dựng chương trình sản xuất các sản phẩm chủ lực; phát triển các điểm công nghiệp dịch vụ nông thôn, khôi phục các làng nghề; động viên, khuyến khích, thúc đẩy các nhà đầu tư triển khai nhanh các dự án đầu tư tại các khu công nghiệp Liên Chiểu, Hòa Khánh, Đà Nẵng, Hòa Cầm, Thọ Quang, phấn đấu đến năm 2005, hầu hết các dự án lớn đầu tư vào các Khu công nghiệp đi vào sản xuất.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu mới. Thực hiện nhất quán các cơ chế chính sách ưu đãi để đẩy mạnh thu hút đầu tư; phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, đổi mới quản lý. Tiếp tục thực hiện Đề án sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước không cần giữ 100% vốn. Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác theo tinh thần Nghị quyết TW 5 (khoá IX). Xây dựng và triển khai chương trình hỗ trợ, hướng dẫn các hộ kinh tế cá thể, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoạt động theo đúng Luật doanh nghiệp và pháp luật của nhà nước; bảo hộ quyền sở hữu, lợi ích hợp pháp và khuyến khích khu vực kinh tế này huy động mọi nguồn lực để phát triển.
b)- Đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU ngày 12/3/2003 của Ban Thường vụ Thành ủy về phát triển công nghệ thông tin, chú trọng cả ứng dụng, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin - viễn thông, phát triển công nghiệp công nghệ thông tin và đào tạo nguồn nhân lực; phấn đấu đến năm 2010 trở thành một trong những địa phương dẫn đầu về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và là trung tâm phát triển về công nghiệp phần mềm của miền Trung. Phối hợp với các cơ quan Trung ương, xúc tiến việc đầu tư xây dựng khu công nghiệp công nghệ cao và thu hút các cơ quan nghiên cứu khoa học - công nghệ triển khai các hoạt động vào thành phố.
* Chương trình này do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND thành phố phụ trách; Ban Quản lý KCN và các Sở Công nghiệp, Kế hoạch - Đầu tư, Khoa học - Công nghệ phối hợp xây dựng, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 4-2004.
Chương trình 3: Tập trung phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ lớn của cả nước.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
a) Đầu tư phát triển mạnh du lịch để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố, sớm xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước. Phối hợp với Tổng Cục Du lịch xúc tiến xây dựng một số khu du lịch cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế có các dịch vụ dành riêng cho người nước ngoài; xây dựng phương án, đề án đưa khu vực Hải Vân, bán đảo Sơn Trà vào phát triển du lịch.
- Tiếp tục thực hiện Nghị Quyết 03-NQ/TU của Thành ủy, với nội dung chính là: xây dựng, phát triển hạ tầng phục vụ du lịch; mở thêm nhiều tour, tuyến và đa dạng hoá các loại hình du lịch; nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch; đẩy mạnh hoạt động quảng bá, thu hút khách du lịch, nhất là khách nước ngoài, nâng thời gian lưu trú của khách; tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh du lịch ngang tầm với yêu cầu mới.
b) Phát huy lợi thế về vận tải đường sắt, đường bộ, cảng biển, sân bay quốc tế, xây dựng Đà Nẵng trở thành đầu mối trung chuyển, quá cảnh và giao thương hàng hóa - dịch vụ của khu vực; xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm thương mại lớn ở miền Trung. Mở rộng thị trường thương mại tới các vùng trong cả nước với các mặt hàng đa dạng, chất lượng cao. Hình thành trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế; trung tâm thông tin thương mại và thương mại điện tử miền Trung tại Đà Nẵng. Phát triển các kho trung chuyển, xây dựng và nâng cấp các trung tâm thương mại, các khu dịch vụ thương mại tổng hợp.
Thúc đẩy mở rộng một số hoạt động, ngành dịch vụ mũi nhọn như: hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán, kiểm toán, chuyển giao công nghệ, tư vấn đầu tư... để thúc đẩy tăng trưởng cao, góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế thành phố, tiến tới làm tốt chức năng hậu cần dịch vụ cho cả miền Trung và Tây Nguyên.
c) Chuyển đổi mạnh cơ cấu xuất khẩu, tăng tỷ trọng hàng chế biến và hàng chế tác, giảm tỷ lệ sản phẩm xuất thô và sơ chế, đặc biệt tăng tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm dịch vụ từ 5,9% hiện nay lên 30% năm 2010. Tiếp tục phát triển dịch vụ gia công cơ khí, điện tử và đẩy mạnh gia công, xuất khẩu phần mềm nhằm phát huy thế mạnh là một trong ba trung tâm công nghệ của quốc gia và tiềm năng nhân lực dồi dào, có tri thức và nhiệt huyết khoa học.
* Chương trình này do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND thành phố phụ trách; các Sở Du lịch, Thương mại, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính phối hợp xây dựng, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 3-2004.
Chương trình 4: Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
- Xúc tiến mạnh các hoạt động đối ngoại, cả đối ngoại nhà nước và đối ngoại nhân dân; mở các văn phòng đại diện ở nước ngoài; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá về thành phố; tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với các địa phương trong khu vực, trong nước và quốc tế nhằm mở rộng quan hệ kinh tế, hợp tác đầu tư phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa.
- Xây dựng kế hoạch dài hạn đẩy mạnh thu hút đầu tư FDI; vận động vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ phi chính phủ (NGO). Tăng cường quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA, NGO một cách hiệu quả, tiết kiệm.
- Tạo điều kiện và động viên các ngành, các doanh nghiệp chủ động thực hiện phương án tham gia hợp tác, hội nhập, trong đó đặc biệt chú trọng các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN (như AFTA, AICO, AIA...), APEC và WTO, hiệp định thương mại Việt - Mỹ khi các cam kết này được ký kết, lựa chọn các yếu tố thuận lợi để từng bước tham gia đầu tư ra nước ngoài.
* Chương trình này do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND thành phố phụ trách; các Sở Ngoại vụ, Thương mại, Kế hoạch - Đầu tư phối hợp xây dựng, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 3-2004.
Chương trình 5: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm kinh tế biển của khu vực.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
- Tích cực thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hình thành những vùng sản xuất chuyên canh, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ để hướng tới xây dựng nền nông nghiệp đô thị, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp thuần tuý, tăng dần các ngành nghề TTCN và dịch vụ ngành nghề trong nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn.
- Tăng cường một bước quan trọng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp và nông thôn, nhất là hoàn thiện hệ thống giao thông, thủy lợi, dịch vụ, giống cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến bộ sinh học và cung cấp điện, nước sạch; đẩy nhanh quá trình đô thị hóa nông thôn, gắn với việc nâng cao trình độ dân trí, giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp.
- Đầu tư phát triển mạnh nghề cá, bao gồm cả nuôi trồng, khai thác, chế biến và các dịch vụ hậu cần nghề cá để trở thành một trung tâm nghề cá mạnh của cả nước, trung tâm kinh tế biển của khu vực. Phát triển dịch vụ về cảng biển, các ngành công nghiệp gắn với cảng (công nghiệp dựa vào lợi thế xuất nhập, khai thác chế biến hải sản, du lịch và dịch vụ), các kho hàng, trung chuyển và quá cảnh hàng hóa, trong đó công nghiệp cảng và công nghiệp chế biến hải sản là khâu đột phá chính để thúc đẩy các ngành khác.
* Chương trình này do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND thành phố phụ trách; các Sở Thủy sản - Nông Lâm, Kế hoạch - Đầu tư, Công nghiệp, Giao thông - Công chính, Cảng Đà Nẵng phối hợp xây dựng, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 5-2004.
Chương trình 6: Phát triển văn hóa, văn học - nghệ thuật và xây dựng nếp sống văn minh đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và vị thế mới của thành phố.
Trên cơ sở kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết TW5, tiếp tục bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện tốt Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết TW 5 với các nhiệm vụ chủ yếu là:
- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn minh đô thị phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị các di sản văn hoá trên địa bàn thành phố.
- Tập trung đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa, thiết chế văn hóa trọng điểm ngang tầm với vị thế mới của thành phố; chú ý quy hoạch xây dựng các công trình tượng đài và công trình mỹ thuật ngoài trời phù hợp với quy hoạch phát triển đô thị; nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, văn học -nghệ thuật và đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.
- Phát động sâu rộng phong trào sáng tác văn học, nghệ thuật; tạo điều kiện để văn nghệ sĩ sáng tạo được những tác phẩm văn học, nghệ thuật và các công trình văn hóa có giá trị, có tầm vóc và được phổ biến, được công chúng đón nhận rộng rãi. Phát huy vai trò tích cực của văn học, nghệ thuật trong việc xây dựng con người Đà Nẵng trong thời kỳ mới.
- Nâng cao chất lượng các báo, tạp chí; củng cố và phát triển sự nghiệp phát thanh - truyền hình của thành phố; phối hợp và huy động năng lực các báo, đài của Trung ương tại địa phương phục vụ tốt cho nhiệm vụ chính trị tư tưởng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương, tích cực đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học - nghệ thuật.
* Chương trình này do đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy phụ trách; đồng chí Phó Chủ tịch UBND thành phố và các Sở Văn hóa -Thông tin, LH các Hội văn học - nghệ thuật phối hợp xây dựng, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 4-2004.
Chương trình 7: Thực hiện tốt chương trình “5 không”, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm cho người lao động; nâng cao chất lượng các hoạt động y tế, thể dục - thể thao.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt chương trình "5 không", phấn đấu đạt và duy trì các mục tiêu của chương trình này vào năm 2005.
- Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp xóa đói giảm nghèo, phấn đấu hoàn thành mục tiêu giảm hộ nghèo theo chuẩn chung xong trước năm 2005; xây dựng chuẩn mới về phân loại hộ nghèo (của thành phố) để tiếp tục phấn đấu nâng cao mức sống nhân dân, nhất là ở các xã miền núi, vùng ven biển, gia đình chính sách, các hộ nghèo trong diện tái định cư theo yêu cầu đô thị hóa.
- Tăng cường công tác xúc tiến việc làm, tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới để mỗi năm giải quyết trên 23.000 lao động có việc làm; quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, chú ý lao động nữ.
- Đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân trên cơ sở xây dựng đội ngũ cán bộ y tế có y đức và trình độ chuyên môn giỏi; củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, đầu tư - nâng cấp các bệnh viện hiện có, xây dựng bệnh viện đa khoa mới, hình thành trung tâm chẩn đoán y khoa và trung tâm phẫu thuật hiện đại. Tăng cường thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm và các chương trình y tế quốc gia. Có biện pháp tăng cường quản lý hành nghề y, dược tư nhân.
- Phát triển mạnh phong trào thể dục - thể thao theo hướng xã hội hóa kết hợp với đầu tư có trọng điểm của nhà nước; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ thể thao thành tích cao; phát triển một số môn mũi nhọn như bóng đá, điền kinh, bơi lội, cờ vua, cờ tướng... để nâng cao thành tích ngang tầm với các thành phố lớn, từng bước trở thành một trong những trung tâm thể thao mạnh của cả nước.
* Chương trình này do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND thành phố phụ trách; các Sở Lao động - Thương binh - Xã hội, Y tế, Thể dục -Thể thao phối hợp xây dựng, báo cáo Thường vụ Thành ủytrong tháng 5-2004.
Chương trình 8: Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện Kết luận Hội nghị TW 6 (khóa IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 2 (khóa VIII), cần tiếp tục bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện tốt các Đề án về phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ thành phố đến năm 2005 và 2010, trong đó cần tập trung:
- Phát triển quy mô các cấp học, ngành học đi đôi với nâng cao chất lượng dạy và học, củng cố các thành tựu đã đạt được, chống bệnh thành tích và dạy thêm, học thêm tràn lan; ngăn chặn tệ nạn xã hội thâm nhập vào học đường. Phấn đấu sớm đạt chuẩn phổ cập bậc trung học (THPT, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề) ở những nơi có điều kiện. Phối hợp với các cơ quan TW sớm xây dựng Làng Đại học Đà Nẵng, vận động mở Trường Đại học Y khoa tại Đà Nẵng.
- Đẩy mạnh các chương trình nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất và đời sống, chú trọng khoa học xã hội và nhân văn, đưa tiến bộ khoa học về nông thôn; đồng thời đầu tư chuẩn bị cơ sở vật chất cho việc nghiên cứu khoa học cơ bản có định hướng ứng dụng. Quản lý tốt chất lượng các đề tài nghiên cứu. Xây dựng và phát triển có trọng điểm các ngành công nghệ cao (công nghệ thông tin, sinh học, tự động hoá, vật liệu mới...).
- Kết hợp giáo dục phổ thông với giáo dục đại học trong việc đào tạo, nguồn nhân lực cho thời kỳ phát triển mới của thành phố, trong đó chú trọng mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, bảo đảm tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt từ 30 - 35% trên tổng số lao động có việc làm. Xây dựng chương trình đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển thành phố trong những năm đến.
* Chương trình này do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND thành phố phụ trách, các Sở Giáo dục - Đào tạo, Khoa học - Công nghệ, Lao động – TB - XH phối hợp xây dựng, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 4-2004.
Chương trình 9: Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; nâng cao chất lượng hoạt động của các ngành nội chính; đẩy mạnh công tác phòng chống tội phạm và hạn chế tai nạn giao thông, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
- Quán triệt quan điểm của Đảng về hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, triển khai thực hiện có kết quả Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về an ninh quốc gia, Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về cải cách tư pháp; triển khai có kết quả Chương trình hành động của Thành uỷ thực hiện Nghị quyết TW 8 (khóa IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Nghị quyết của Thành ủy về xây dựng thành phố thành khu vực phòng thủ cơ bản, liên hoàn, vững chắc.
- Đẩy mạnh thực hiện Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội; thực hiện đồng bộ các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông. Giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; không để xảy ra “điểm nóng”. Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân.
- Xây dựng các phương án kết hợp có hiệu quả kinh tế với quốc phòng trên các địa bàn chiến lược của thành phố, đặc biệt là khu vực bán đảo Sơn Trà, Hải Vân; thống nhất xác định cụ thể việc quy hoạch sử dụng khu vực bán đảo Sơn Trà, Hải Vân, sân bay Nước Mặn phục vụ phát triển kinh tế - văn hóa - du lịch gắn với quốc phòng - an ninh; xây dựng các phương án và giải pháp bảo đảm bí mật cho các công trình quốc phòng.
* Chương trình này do đồng chí Chủ tịch UBND thành phố phụ trách, các đồng chí Chỉ huy Trưởng BCH Quân sự, Giám đốc Công an, CHT BCH Biên phòng, Sở Tài nguyên - Môi trường phối hợp xây dựng, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 5-2004.
Chương trình 10: Đẩy mạnh cải cách hành chính, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
- Đẩy mạnh thực hiện Chương trình cải cách hành chính của thành phố đến năm 2005 theo Quyết định 136/QĐ-TTg, tập trung cải cách thủ tục hành chính và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức làm khâu đột phá. Triển khai các biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy hành chính các cấp.
- Thường xuyên chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 11-CT/TU ngày 20/10/2003 của Ban Thường vụ Thành ủy về việc tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống; kiên quyết chống các hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, thiếu trách nhiệm, cửa quyền, nhũng nhiễu, hách dịch đối với nhân dân của cán bộ, công chức các cấp.
* Chương trình này do đồng chí Chủ tịch UBND thành phố phụ trách; các Sở Tư pháp, Ban Tổ chức Chính quyền, Thanh tra Nhà nước thành phố phối hợp xây dựng, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 3-2004.
Chương trình 11: Xây dựng thực lực chính trị cơ sở, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; khuyến khích nhân dân thi đua sản xuất làm giàu chính đáng.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
- Tiếp tục thực hiện tốt Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa IX) về đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn; tập trung kiện toàn mặt trận và các đoàn thể về tổ chức và phương thức hoạt động, nhất là các địa bàn dân cư để phát huy tốt vai trò nòng cốt trong các phong trào vận động quần chúng. Chăm lo xây dựng lực lượng nòng cốt, cốt cán về chính trị ở cơ sở, nhất là trên các địa bàn chiến lược.
- Làm tốt công tác vận động quần chúng, tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố thế trận lòng dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước xây dựng và bảo vệ đất nước. Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong các loại hình cơ sở.
- Thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các tầng lớp nhân dân, chăm lo thiết thực đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, vận động toàn dân thi đua đẩy mạnh sản xuất làm giàu chính đáng.
* Chương trình này do đồng chí Trưởng Ban Dân vận Thành ủy phụ trách, ủy ban Mặt trận và các Đoàn thể phối hợp xây dựng, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 5-2004.
Chương trình 12: Xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ phát triển mới của thành phố.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
- Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng chính trị; nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về tình hình và nhiệm vụ mới; củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng; củng cố đoàn kết, thống nhất trong Đảng; ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị.
- Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, quản lý chặt chẽ đảng viên về tư tưởng và sinh hoạt và phát triển đảng viên mới. Chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 6 (lần 2) khóa VIII và Kết luận Hội nghị TW 4 khóa IX, kiên quyết đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, các biểu hiện tha hoá về đạo đức, lối sống và các hành vi quan liêu, cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu đối với nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp theo tinh thần Chỉ thị 11-CT/TU của Ban Thường vụ Thành ủy.
- Hàng năm, xây dựng chương trình công tác kiểm tra của cấp uỷ và Uỷ ban Kiểm tra các cấp sát với nhiệm vụ chính trị; giải quyết kịp thời đơn thư tố cáo, khiếu nại và xử lý nghiêm minh các vụ việc vi phạm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.
- Tìm giải pháp đột phá nhằm tạo chuyển biến rõ nét về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ phát triển mới. Trước mắt, rà soát, bố trí lại đội ngũ cán bộ để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng gắn với luân chuyển cán bộ, bổ nhiệm cán bộ có thời hạn; chú ý đối với cán bộ nữ. Tiếp tục thực hiện trẻ hoá đội ngũ cán bộ trên cơ sở kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển; thực hiện đúng quy trình, dân chủ, công khai trong công tác cán bộ. Tích cực chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2005 – 2010, nhân sự HĐND, UBND nhiệm kỳ 2004 – 2009, gắn với quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận cho các nhiệm kỳ tiếp theo. Chấp hành nghiêm túc các quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới.
- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, hướng mạnh về cơ sở, chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh trên địa bàn dân cư. Mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường trật tự, kỷ cương; đề cao tinh thần trách nhiệm, phối hợp đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố đã đề ra.
* Chương trình này do đồng chí Phó Bí thư Thường trực Thành ủyphụ trách; Trưởng các Ban Tổ chức, Tuyên giáo và Ủy ban Kiểm tra Thành uỷ phối hợp xây dựng, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy trong tháng 6-2004.
C- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể phải lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc tổ chức quán triệt Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW, đồng thời xây dựng Kế hoạch thực hiện phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của ngành, địa phương, đơn vị mình. Kế hoạch thực hiện phải cụ thể, thiết thực, xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp và bước đi đến năm 2005, 2010.
2- Đảng đoàn HĐND, ban cán sự đảng UBND thành phố đưa việc thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị vào kế hoạch công tác hàng năm; chọn những vấn đề cấp bách, then chốt, có tính đột phá để tập trung chỉ đạo thực hiện trước; chỉ đạo các ngành liên quan xây dựng và triển khai thực hiện các dự án về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, cải cách hành chính; đồng thời ra sức tranh thủ sự giúp đỡ của các ban, bộ, ngành TW, các địa phương bạn trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết. Hàng năm, mỗi sở, ngành, địa phương lựa chọn 3 nhiệm vụ trọng tâm, bức xúc nhất thuộc trách nhiệm của mình để đăng ký tổ chức thực hiện.
3- Các đồng chí phụ trách các chuyên đề trên đây chỉ đạo xây dựng kế hoạch, với mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và bước đi cụ thể báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy thông qua và chỉ đạo tổ chức thực hiện, định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy theo dõi, chỉ đạo. UBND thành phố bố trí ngân sách hỗ trợ việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện các Chương trình.
4- Ban Tuyên giáo Thành ủy chủ trì phối hợp với các ban đảng, mặt trận và các đoàn thể hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức tốt việc học tập, quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Thành ủy cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, qua đó tạo sự nhất trí cao trong Đảng và sự đồng thuận cao trong xã hội về các biện pháp xây dựng và phát triển thành phố; đẩy mạnh phong trào thi đua thực hiện Nghị quyết.
5- Các ban đảng theo chức năng, nhiệm vụ được giao, giúp Ban Thường vụ Thành ủy theo dõi việc tổ chức quán triệt và thực hiện Chương trình hành động này; định kỳ báo cáo để Ban Thường vụ Thành ủy theo dõi chỉ đạo.
|
Nơi nhận: |
|