Chúng tôi vào giải phóng Sài Gòn
Chỉ sang một bên cánh tay bị thương, ông Đoàn nói “Tôi bị mất cánh tay trái đúng vào ngày 30-4-1975 tại đường phố trung tâm Sài Gòn”.
Chỉ sang một bên cánh tay bị thương, ông Đoàn nói “Tôi bị mất cánh tay trái đúng vào ngày 30-4-1975 tại đường phố trung tâm Sài Gòn”.
Ông là Nguyễn Trần Đoàn, hiện là Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Thương, bệnh binh, cựu chiến binh thành phố. Ở tuổi 59, ông Đoàn vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn, giữ tác phong rất lính. 35 năm kể từ trận đánh cuối cùng của ông và đồng đội, những kỷ niệm về Sài Gòn ngày 30-4-1975 vẫn còn ăm ắp trong trí nhớ của người cựu chiến binh, thương binh này.
Năm 1969, chàng trai Nguyễn Trần Đoàn khi đó mới 17 tuổi ở xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên viết đơn tình nguyện vào bộ đội. Nhìn dáng người thấp bé, nặng chưa đến …40 kg của Đoàn, anh cán bộ làm công tác tuyển quân nói: “Chúng tôi biểu dương tinh thần xung phong của đồng chí, nhưng đồng chí chờ thêm một năm nữa cho…lớn thêm chút nữa”. Đúng như nguyện vọng, 1 năm sau Nguyễn Trần Đoàn được nhập ngũ, huấn luyện rồi điều động về Trung đoàn 273, Quân đoàn 3 tham gia chiến dịch Tây Nguyên.
Ông Đoàn nhớ lại: “Sau chiến dịch Tây Nguyên, chúng tôi được lệnh hành quân thần tốc, đánh vào Sài Gòn từ hướng Tây Bắc. Khi đó tôi là trung đội trưởng một đơn vị. Sáng ngày 26-4, đồng chí Mạnh, Phó chính ủy trung đoàn gọi tôi ra bìa rừng, nói: “Chúng ta đang chuẩn bị một cuộc tấn công vào đầu não của ngụy quân tại nội thành Sài Gòn. Đây sẽ là trận đánh lớn cuối cùng trong chiến dịch Hồ Chí Minh”. Ngay sau khi nhận được chỉ thị, tôi về quán triệt với anh em trong đơn vị đồng thời chuẩn bị 26 lá cờ giải phóng cắm trên nóc xe tăng. Trước khi bước vào trận đánh lớn, Trung đoàn 273 diễn tập phương án phối hợp với đơn vị bộ binh (trung đoàn 24, sư đoàn 10). Sở dĩ phải có hoạt động phối hợp diễn tập vì đơn vị xe tăng của chúng tôi chủ yếu sử dụng 2 loại xe K63 và T54. Các xe tăng này, ngoài những vũ khí, khí tài đặc dụng còn chở thêm bộ đội bộ binh hoặc bộ đội bộ binh đi sau yểm trợ. Đặc biệt xe K63 với trọng lượng hơn 36 tấn có thể chứa bên trong một đại đội bộ binh. Trong quá trình hành quân, tác chiến luôn có sự phối hợp giữa xe tăng và lính bộ binh.
Sáng 29-4, đơn vị chúng tôi bắt đầu hành quân qua Đồng Dù và Cầu Bông đánh vào hướng Đông Bắc của Sài Gòn. Cảnh tượng hành quân thật hào hùng, những chiếc xe tăng nối đuôi nhau kéo dài đến 15 km, xe tăng do tôi chỉ huy đi thứ 7 trong đoàn quân đó. Tới Đồng Dù, chúng tôi đánh thắng một trận giòn giã, 23 chiếc xe M113 của quân ngụy tràn ra đánh, ngay lập tức các loại hỏa lực dồn dập nã vào đầu địch, tiêu diệt gọn toán xe tăng của chúng.
6 giờ sáng ngày 30-4-1975, lệnh của cấp trên được ban ra, mũi tấn công của chúng tôi có nhiệm vụ đánh vào Bộ Tổng tham mưu ngụy, sau đó tiến tới đánh sân bay Tân Sơn Nhất rồi tiến thẳng tới Dinh Độc Lập. Lúc này, xe tăng do tôi chỉ huy từ vị trí số 7 đã tiến lên vị trí số 3, đoàn xe hùng dũng tiến vào nội thành Sài Gòn. Lúc này, địch từ các hướng vẫn điên cuồng chống trả quyết liệt, trên đầu chúng tôi máy bay trực thăng lượn vòng quanh, kín đặc bầu trời. Trước giờ phút giãy chết, chúng vẫn không dám bay ra khỏi thành phố vì lưới lửa phòng không của quân ta sẵn sàng tiêu diệt khi chúng có ý định ra vòng ngoài đánh phá hay chạy trốn. Sài Gòn sáng 30-4-1975 mưa tầm tã khiến nhiều xe tăng bị hỏng hệ thống liên lạc bằng điện. Chuẩn bị cho trận đánh, đồng chí Chính trị viên tiểu đoàn chạy bộ đến từng xe truyền lệnh: “Hệ thống liên lạc bị chập điện, yêu cầu tất cả các xe tăng bắn đạn lửa vạch sáng (đây là loại đạn khi phóng ra có vạch lửa), khi đạn vạch sáng chỉ huy bắn vào vị trí quân địch đang chống trả, lập tức các loại hỏa lực liền tập trung đánh vào điểm đó.
Nhớ lại buổi sáng 30-4-1975, ông Đoàn trầm ngâm: Khi tiến vào nội thành Sài Gòn, chúng tôi gặp sự kháng cự điên cuồng của tàn quân địch trong cơn giẫy chết. 8 giờ 30 phút sáng, đơn vị tấn công vào cụm hỏa lực địch ở ngã tư Bảy Hiền, các loại hỏa lực từ các công sự địch bắn ra tới tấp nhằm vào đội hình quân ta. Đồng chí Việt, chiến sĩ bộ binh ngồi trên xe tăng bị thương nặng gần ngã xuống đường. Từ trong xe, tôi giơ cánh tay trái ra kéo đồng chí Việt vào trong, bất ngờ một quả đạn súng cối nổ ngay bên cạnh, đồng chí Việt hy sinh, còn tôi bị mất cánh tay trái. Lập tức tôi được đồng đội đưa vào trong xe băng bó vết thương, tiếng đồng chí chỉ huy hô to “tiếp tục chiến đấu”. Sau khi cụm công sự địch ở ngã tư Bảy Hiền bị tiêu diệt, anh em trong xe đưa tôi xuống ven đường chờ cứu thương còn đơn vị tiếp tục chiến đấu truy quét địch. Bên ven đường, tôi nằm thiếp đi tới lúc tỉnh dậy thấy mình đã nằm trong một bệnh xá dã chiến. Lúc này đã là 3 giờ chiều ngày 30-4, khắp nơi la liệt các chiến sĩ của ta bị thương nhưng trên khuôn mặt họ đều hiện lên một niềm vui háo hức. “giải phóng rồi”, tiếng cô y tá thông báo khiến chúng tôi ai nấy đều trào dâng một niềm vui khôn tả. “Xe tôi thế nào rồi”, tôi quay sang hỏi một thương binh (anh này chính là chiến sĩ bộ binh cùng ngồi trên xe tăng của tôi), anh cho biết ngay sau khi tôi bị thương, anh em tiếp tục chiến đấu, đi thêm được khoảng 400m nữa thì xe bị trúng đạn, kíp chiến đấu trong xe hy sinh gần hết.
Tôi bị mất một cánh tay, ngay trong nội thành Sài Gòn trong ngày chiến thắng nhưng còn may mắn hơn các đồng đội của mình. Họ như tôi, rất trẻ, chỉ vài tiếng nữa là được hưởng niềm vui chiến thắng…vậy mà. Chiến tranh là thế, sự hy sinh và niềm vui chiến thắng cách nhau trong gang tấc. Ngày Sài Gòn rực rỡ màu cờ giải phóng, có không ít đồng đội của chúng tôi nằm lại nơi chiến trường, góp phần làm nên chiến thắng 30-4.
Việt Hòa