Chứng thực bản sao tiếng nước ngoài: Khó kiểm soát nội dung
Nghị định 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký là bước cải cách mang tính đột phá trong lĩnh vực tư pháp, giảm phiền hà cho người dân, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc …
Nghị định 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký là bước cải cách mang tính đột phá trong lĩnh vực tư pháp, giảm phiền hà cho người dân, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc … Tuy nhiên, chung quanh quy định về chứng thực bản sao, chữ ký, văn bản bằng tiếng nước ngoài còn nhiều băn khoăn.
Vừa chứng vừa…run!
Theo quy định của nghị định, phòng tư pháp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là phòng tư pháp) có thẩm quyền và trách nhiệm: chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài. UBND xã, phường, thị trấn chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt.
Ông Ngô Văn Lâm, Phó trưởng Phòng Tư pháp huyện An Lão cho biết, trưởng, phó phòng tư pháp thực hiện chứng thực bản sao tiếng nước ngoài, chữ ký người dịch. Việc chứng thực chữ ký người dịch bảo đảm chính xác, tuy nhiên khi chứng thực bản sao tiếng nước ngoài thì cán bộ tư pháp vừa chứng vừa… run. Theo ý kiến của ông Lâm cũng như nhiều lãnh đạo các phòng tư pháp quận, huyện khác về bản chất, quy định chứng thực chữ ký người dịch, không phải là nội dung bản dịch. Tuy nhiên, cán bộ tư pháp cũng không khỏi băn khoăn về nội dung bản dịch. Bởi, cán bộ phòng tư pháp không phải ai cũng có khả năng thông thạo ngoại ngữ để có thể kiểm tra tất cả bản dịch, bảo đảm nội dung bản dịch là hoàn toàn chính xác. Số lượng bản dịch, chữ ký người dịch trong các văn bản bằng tiếng nước ngoài ở các phòng tư pháp hằng năm không nhiều (năm 2009 Phòng Tư pháp huyện Thủy Nguyên thực hiện 940 việc, Phòng Tư pháp huyện An Lão thực hiện 150 việc) nhưng có liên quan trực tiếp đến người nước ngoài hoặc các tổ chức, cá nhân nước ngoài (người đi xuất khẩu lao động, kết hôn với người nước ngoài, hợp đồng thương mại), không cẩn trọng, hậu quả sẽ khó lường. Cũng trong việc chứng thực hiện nay quy định, văn bản song ngữ thực hiện tại UBND xã, nhưng nếu trong cùng một bộ hồ sơ có cả văn bản tiếng nước ngoài thì người dân thực hiện tại Phòng tư pháp. Điều này dẫn đến tình trạng, trong một bộ hồ sơ có văn bản tiếng nước ngoài, người dân đến UBND xã, UBND xã sẽ chứng thực bản tiếng Việt, còn bản tiếng nước ngoài chứng thực ở quận, huyện. Nếu người dân cầm cả bộ hồ sơ đến Phòng tư pháp thì được chứng thực cả bộ.
Thiếu đội ngũ cộng tác viên dịch thuật

Liên quan đến bản dịch là người dịch và chất lượng văn bản dịch. Trước đây, các phòng công chứng của Sở Tư pháp có đội ngũ cộng tác viên dịch thuật, được ký hợp đồng và ràng buộc về quyền lợi, trách nhiệm. Tất cả bản dịch bảo đảm tính pháp lý, có độ tin cậy cao. Nghị định 79 quy định chuyển giao việc chứng thực bản dịch về các Phòng tư pháp quận, huyện. Do đây là việc mới, nhiều Phòng tư pháp chưa tổ chức mạng lưới cộng tác viên dịch thuật nên rất lúng túng. Hầu hết các Phòng tư pháp lựa chọn phương án, khi người dân có nhu cầu dịch, phòng sẽ giới thiệu người dịch. Người dịch là cộng tác viên của phòng, chủ yếu là cử nhân, giáo viên dạy ngoại ngữ ở bậc THPT trên địa bàn, do đó khi chứng thực, cán bộ phòng tư pháp cũng yên tâm hơn. Tuy nhiên, với những trường hợp người tự dịch đến chứng thực bản dịch, cán bộ tư pháp không khỏi băn khoăn. Không chứng thực thì không đúng quy định, nhưng nếu chứng thực thì không kiểm soát được tính chính xác của nội dung văn bản dịch.
Ông Phùng Công Vĩnh, Trưởng phòng Hành chính-Tư pháp Sở Tư pháp cho biết: Chứng thực bản sao bằng tiếng nước ngoài tại các Phòng tư pháp không kiểm soát được nội dung văn bản tiếng nước ngoài, không biết nội dung văn bản tiếng nước ngoài có vi phạm pháp luật, chuẩn mực đạo đức Việt Nam hay không. Các Phòng tư pháp không có cơ sở để kiểm tra, đối chiếu nội dung bản dịch vì hầu hết cán bộ tư pháp không đủ trình độ ngoại ngữ để kiểm soát được tất cả nội dung bản dịch bằng nhiều thứ tiếng. Ông Phạm Hải Nam, Trưởng Phòng Tư pháp huyện An Dương bày tỏ, khắc phục tình trạng không kiểm soát được nội dung bản sao tiếng nước ngoài, phòng bố trí cán bộ tư pháp có trình độ ngoại ngữ, có thể kiểm tra sơ bộ nội dung bản sao trước khi chứng thực, tuy nhiên cũng chỉ được một vài ngoại ngữ thông dụng như tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, còn các ngoại ngữ khác thì …chịu. Để bảo đảm chính xác bản dịch, khi chứng thực phòng cũng yêu cầu người dịch có các giấy tờ liên quan chứng minh về trình độ ngoại ngữ, có giấy cam đoan chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung bản dịch. Thủ tục như vậy là để rõ trách nhiệm người dịch đối với nội dung bản dịch
Một băn khoăn khác là khi chứng thực bản sao, bản dịch từ tiếng nước ngoài, Phòng tư pháp chỉ giới thiệu cộng tác viên dịch và thu lệ phí chứng thực theo quy định, còn thù lao công dịch lại do sự thỏa thuận của người dịch và người có yêu cầu dịch. Do đó không tránh khỏi người dân có thể phải trả khoản phí dịch thuật cao hơn mặt bằng chung. Ở các huyện, đội ngũ cộng tác viên mỏng, mới chỉ đáp ứng một vài ngoại ngữ thông dụng như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, nếu có ngoại ngữ khác phải đi xa hơn mới được đáp ứng. Trước thực trạng chứng thực bản sao tiếng nước ngoài khó kiểm soát nội dung, nhiều ý kiến từ cán bộ tư pháp, lãnh đạo các Phòng tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng nên giao việc chứng thực bản sao tiếng nước ngoài về các tổ chức hành nghề công chứng, điều này mang tính khả thi hơn việc phải tuyển dụng đủ cán bộ tư pháp đủ năng lực, trình độ về ngoại ngữ phục vụ cho việc chứng thực bản sao tiếng nước ngoài ./.