Chung quanh việc huy động vốn cổ đông của Công ty cổ phần lâm sản Hải Phòng- Khuất tất, khó hiểu

Thời gian gần đây, nhiều cổ đông của Công ty cổ phần Lâm sản Hải Phòng phản ứng về sự khuất tất, khó hiểu chung quanh việc huy động vốn cổ đông của công ty. Các cổ đông bất bình vì sự áp đặt, thiếu minh bạch, không rõ ràng, ảnh hưởng tới quyền lợi của cổ đông.

Sự việc bắt đầu bằng thông báo ngày 17- 10- 2008 của Công ty cổ phần lâm sản Hải Phòng về việc huy động vốn của cổ đông. Bản thông báo này căn cứ vào nghị quyết Đại hội cổ đông bất thường trước đó (ngày 15- 10). Theo đó, cổ đông phải gửi phiếu đăng ký cho công ty vay vốn trước ngày 22- 10. Nếu sau ngày này, công ty không nhận được phiếu đăng ký thì coi như cổ đông đó không tham gia phương án huy động vốn của công ty. Tuy nhiên, sự khuất tất, khó hiểu lại nằm trong phương án huy động vốn. Cụ thể, công ty cần huy động 10 tỷ đồng để phục vụ sản xuất, kinh doanh với thời hạn 12 tháng, lãi suất huy động bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Công thương Việt Nam. Tất cả các cổ đông đều phải có trách nhiệm cho công ty vay vốn tương ứng với số cổ phần hiện hữu (mức cho vay 1 cổ phần là 250.000 đồng). Nếu cổ đông không cho công ty vay sẽ mất quyền ưu tiên mua cổ phần mới (tương ứng với số tiền cổ đông có trách nhiệm cho công ty vay) theo mệnh giá khi công ty phát hành tăng vốn điều lệ sau này.

   

Chính quy định sau cùng này khiến nhiều cổ đông phản đối bởi luật cũng như những quy định của Nhà nước đều không đề cập tới vấn đề này.

    

Truy tìm lại nguyên do được biết, Công ty cổ phần Lâm sản được cổ phần hóa năm 2002 với số vốn điều lệ ban đầu 4 tỷ đồng, Nhà nước nắm giữ 44,6%, còn lại là của CBCNV và cổ đông bên ngoài. Nhiệm kỳ thứ nhất ( 2002- 2007), công ty thực hiện một số vụ chuyển nhượng nhà xưởng, đất đai, thu số tiền gần 10 tỷ đồng. Trừ đi một số khoản đóng góp theo nghĩa vụ, vốn chủ sở hữu của công ty lên tới 9,6 tỷ đồng. Lẽ ra công ty phải thực hiện việc tăng vốn điều lệ nhưng đến nay vẫn chưa làm, ảnh hưởng tới quyền lợi của cổ đông. Không những thế, trong quá trình hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, đơn vị liên tục lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Hiện công ty còn nhiều món vay quá hạn tại Ngân hàng Công thương Lê Chân, bị đốc thúc trả nợ. Trong khi đó, tại Đại hội cổ đông thường niên tháng 4- 2008, công ty báo cáo vẫn có lãi nhưng tới Đại hội cổ đông bất thường lần 1 ngày 11- 9- 2008 lại báo cáo về tình trạng tài chính hết sức bi đát. Cụ thể, tổng số tiền lỗ lên tới 6,6 tỷ đồng, trong đó lỗ của 7 tháng năm 2008 là 4,9 tỷ đồng, lỗ từ các năm trước chuyển sang 1,65 tỷ đồng. Nguyên nhân do trả lãi vay ngân hàng 1,24 tỷ đồng, trả lương CBCNV 1,335 tỷ đồng, lỗ các năm trước 1,65 tỷ đồng. Công ty cũng thừa nhận do việc kiểm kê hàng tồn kho các năm trước chưa chính xác, việc định giá vốn chưa đúng thực tế nên dẫn tới tình trạng lãi giả, lỗ thật. Ngoài ra, ngân hàng hạ mức cho vay từ 10 tỷ đồng xuống còn 5 tỷ đồng nên công ty không có tiền mua nguyên liệu sản xuất. Công nợ phải trả của công ty tính đến ngày 31- 7 là 15,2 tỷ đồng, nợ phải thu 4,1 tỷ đồng. Công ty cũng tính toán lợi nhuận của cả năm 2008 ở mức thấp, lại phải trả lãi vay nên không có cổ tức.

    

Như vậy, cổ đông của công ty bị thiệt hại khá nhiều (vốn chủ sở hữu tăng nhưng không tăng vốn điều lệ, không được chia cổ tức..), nay lại thêm một quy định bắt buộc, áp đặt về việc cho công ty vay vốn. Rõ ràng, Công ty cổ phần Lâm sản đã lâm vào tình trạng khó khăn, ngân hàng liên tục đòi nợ trong khi tài sản phần lớn được mang đi thế chấp. Các cổ đông cho rằng: việc huy động vốn là đúng, họ sẵn sàng ủng hộ nhưng công ty cần loại bỏ các quy định ràng buộc, trái luật. Hơn nữa, khi huy động vốn 10 tỷ đồng công ty cũng chưa có phương án sử dụng vốn rõ ràng, hiệu quả, không giải trình rõ nguồn vốn được sử dụng vào việc gì, trả lãi, trả gốc ra sao… Trong khi đó, lại lấy việc mua cổ phần mới để ép cổ đông cho vay vốn là chưa hợp tình, hợp lý, tước đoạt quyền của cổ đông.

    

Trong điều kiện hiện tại, Công ty cổ phần Lâm sản Hải Phòng và nhất là cổ đông Nhà nước đang nắm giữ 44,6% vốn điều lệ (Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam) cần phát huy rõ vai trò của mình, bảo đảm quyền lợi và sự bình đẳng của tất cả cổ đông. Các cổ đông của công ty cũng cần thể hiện chính kiến về việc huy động vốn, yêu cầu phương án sử dụng rõ ràng và bỏ các điều kiện ràng buộc. Như vậy mới đúng nghĩa hoạt động của công ty cổ phần, mọi cổ đông đều có quyền lợi và trách nhiệm, bình đẳng như nhau và cùng góp sức đưa công ty vượt qua giai đoạn khó khăn, ổn định sản xuất kinh doanh, mang lại hiệu quả cho Nhà nước và cổ đông.

 

Thanh Hiệp