Chứng cứ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông
Từ trước đến nay, Việt Nam có nhiều bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để chứng minh chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam đã thực thi liên tục chủ quyền của mình đối với Biển Đông. Báo PLVN lần lượt trích đăng một số ý kiến của các chuyên gia, nhà sử học về vấn đề này.
- Kỳ 1- Việt Nam khẳng định lịch sử chủ quyền
Lịch sử chủ quyền của Việt Nam đã được khẳng định
Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được minh chứng bằng những tư liệu lịch sử không những của Việt Nam, mà còn của chính Trung Hoa cũng như của phương Tây; đồng thời, bằng quá trình chiếm hữu thực sự, hòa bình và thực thi liên tục của các nhà nước Việt Nam quá các thời kỳ lịch sử từ đầu thế kỷ XVII. Những bằng chứng này khác hẳn với những tư liệu mà Trung Quốc đã cố viện dẫn.
Hầu hết các tư liệu Việt Nam, đều là tư liệu thuộc nhà nước, đặc biệt là “Hội điển”, loại sách ghi điển chế biến thành luật lệ của triều đình hoặc các châu bản, tức những văn bản trao đổi giữa vua và các đình thần hoặc tỉnh thần, đều trực tiếp minh chứng chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tư liệu Việt Nam đã đề cập đến địa danh Hoàng Sa, tiếng Nôm cùng nghĩa gọi là Cát Vàng hay Cồn Vàng, lại rất nhất quán từ đầu thế kỷ XVII, tức từ thời Chúa Nguyễn đến thế kỷ XX. Cho đến nay, vẫn còn giữ địa danh Hoàng Sa. Địa danh Hoàng Sa (chữ Nôm là Cát Vàng) cũng đã được người Phương Tây xác nhận chính là Paracel vào thế kỷ XIX.
Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII) sang thời Tây Sơn rồi tới đầu triều Nguyễn (từ vua Gia Long) qua hoạt động của đội Hoàng Sa cũng như sự khẳng định, sự quản hạt hành chánh của chính quyền Việt Nam và sau đó đến các triều Minh Mạng, Thiệu Trị qua hoạt động của thủy quân. Đại Nam nhất thống chí (bắt đầu soạn năm 1865, soạn xong năm 1882, ấn hành năm 1910), vẫn tiếp tục khẳng định Hoàng Sa thuộc cương vực ngoài biển của Việt Nam.
Nếu không kể những tư liệu đại loại như Trung Quốc thường viện dẫn, tức là những người đi qua Hoàng Sa rồi cảm tác hay viết tới quần đảo này như Lý Văn Phức đi trên tàu sang Philippines năm 1832 viết “Vọng kiến vạn lý Tràng Sa tác” trong tác phẩm “Đông hành thi thuyết thảo”, Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, liên tục qua các đời từ đầu thế kỷ XVII đến khi bị các nước ngoài xâm phạm, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng trên Biển Đông.
Khẳng định chủ quyền của vua, triều đình nhà Nguyễn
Trong khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào nói rõ vua, triều đình Trung Quốc khẳng định chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa, thì tài liệu chính sử của Việt Nam cho thấy vua và triều đình Việt Nam đã nhiều lần khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh hải Việt Nam. Các tài liệu chính thức của nhà nước Việt Nam, của triều đình Việt Nam như “Đại Nam Thực lục Chính Biên”, “Đại Nam Hội Điển Sự Lệ”, “Châu Bản Triều Nguyễn”, “Đại Nam Thống Nhất Chí” đã ghi nhận rất rõ ràng rằng hoàng đế Việt Nam, triều đình Việt Nam luôn khẳng định Hoàng Sa thuộc về cương vực mặt biển.
Với tính cách nhà nước, đội Hoàng Sa – một tổ chức bán quân sự gồm 70 suất đinh coi là lính – được Nhà nước cấp lương thực 6 tháng, đứng đầu là cai đội hay đội trưởng được triều đình cắt cử kiêm lĩnh thủ ngự cửa biển Sa Kỳ (Quảng Ngãi), kiêm quan đội Bắc Hải ở phía Nam, hàng năm đã được giao nhiệm vụ riêng một mình kiểm soát và khai thác định kỳ, liên tục và hòa bình hải sản quý cùng các sản vật kể cả súng ống của các tàu đám tại các đảo Hoàng Sa suốt thời Đại Việt.
Trong thời các Chúa Nguyễn và thời Tây Sơn, tức từ đầu thế kỷ XVII đến năm 1801 và sau đó là buổi đầu triều Nguyễn từ 1802 đến trước 1815, hàng năm, đội Hoàng Sa hoạt động trong 6 tháng từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) để phù hợp với điều kiện thời tiết, tránh thời gian quá nhiều bão tố ở vùng biển của quần đảo Hoàng Sa.
Trong hơn 2 thế kỷ từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đội Bắc Hải cũng đã được cử đi tìm kiếm hải vật ở khu vực Bắc Hải tức khu vực quần đảo Trường Sa và cả Côn Đảo, Hà Tiên ở phía Nam của Đại Việt. Đội Bắc Hải tuy không được chính quyền Chúa Nguyễn coi quan trọng như đội Hoàng Sa, không cần định suất hoặc lấy những người tình nguyện song đội Bắc Hải vẫn do nhà nước quản lý.
Thời gian Đội Bắc Hải hoạt động cũng bắt đầu từ lâu, trước khi “Phủ biên tạp lục” ra đời (1776), cũng như phải sau khi đất Bình Thuận bắt đầu thuộc Đại Việt (1697) đến đầu nhà Nguyễn. Suốt từ thời nhà Nguyễn, bắt đầu từ năm 1816, thủy quân lại được giao trọng trách liên tục từ năm 1836 thành lệ hàng năm đi cắm cột mốc, dựng bia, đào giếng, xây dựng miếu, trồng cây… tại Hoàng Sa và Trường Sa. Thủy quân được các dân binh Hoàng Sa tiếp tục hỗ trợ như lái thuyền, lo hậu cần…
Và, ngoài rất nhiều tài liệu chính thức của nhà nước dưới Triều Nguyễn, việc xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa còn do sách của chính người Trung Hoa viết như “Hải ngoại kỷ sự” của Thích Đại Sán viết năm 1696. Đó là chưa kể nhiều tác giả phương Tây như Le Poivre (1749), J.Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833), Gutzlaff (1849)… cũng đã khẳng định rõ ràng Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Tiêu biểu nhất là Bản đồ “An Nam đại quốc họa đồ” của Giám mục Taberd trong cuốn Tự Điển Việt-La Tinh (nhan đề Latino-Anamiticum” xuất bản năm 1838 đã ghi rõ: “Paracel Seu Cát Vàng” ở tọa độ hiện nay của Hoàng Sa tại Biển Đông. Trong khi bản đồ An Nam này chỉ vẽ có Paracel Seu Cát Vàng, lại không vẽ Hải Nam của Trung Quốc trong Biển Đông. Như vậy, rõ ràng bản đồ “An Nam đại quốc họa đồ” đã minh chứng Cát Vàng (Hoàng Sa) chính là Paracel nằm trong vùng biển của Việt Nam. (Còn nữa)
TS sử học Nguyễn Nhã