Chùa Đá trời sinh trên đảo Lý Sơn

(PLVN) - Chùa Hang (Thiên Khổng Thạch tự, nghĩa là Chùa đá trời sinh) ở xã An Hải, đảo Lý Sơn, được lập ra dưới triều vua Lê Kính Tông. Gọi là chùa Hang vì chùa nằm trong một hang đá lớn nhất trong hệ thống hang động ở Lý Sơn, được tạo ra từ dãy núi Thới Lới, màu nham thạch, vách núi dựng đứng cao gần 20 m. Năm 1994, chùa đã được Bộ Văn hóa xếp hạng thắng cảnh quốc gia.
Toàn cảnh chùa Hang- Ngôi chùa đá trời sinh Toàn cảnh chùa Hang- Ngôi chùa đá trời sinh

Tọa lạc trên vùng đất sơn thủy hữu tình của hòn đảo tiền tiêu, gắn với những kỳ tích thiên nhiên cũng như kỳ tích của những tiền nhân đi khẩn hoang, mở mang bờ cõi, chùa Hang ẩn chứa nhiều câu chuyện huyền bí, ngôi cổ tự này được coi như tác phẩm điêu khắc đá huyền diệu mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này.

Huyền tích núi lửa

Chùa Hang nằm ở phía Đông bắc núi Thới Lới - ngọn núi cao nhất trong năm ngọn núi đều là dấu tích cho sự phun trào của núi lửa trên đảo Lý Sơn. Người xưa đã tận dụng hang động nằm sâu trong lòng núi, sát bên bờ biển, để tạo dựng cảnh chùa.

Đứng từ xa quan sát, khó có thể biết được trong động lại có một kiến trúc nhân tạo mà chỉ nhìn thấy tán lá của những cây bàng biển cổ thụ. Đường lên chùa Hang cheo leo bám theo mép biển, qua nhiều bậc đá đã được tay người đẽo gọt.

Phía trước chùa Hang, trên một vách đá dựng đứng cao khoảng 20m, có khắc 4 chữ Hán, sơn màu vàng “Thiên Khổng Thạch Tự”. Ngay phía dưới vách đá có các mạch nước ngầm chảy rỉ rả suốt năm tháng tạo thành một cái “giếng trời”, rêu phong nhũ đá trông đẹp mắt một cách lạ thường. Hiện nay, người ta cho xây dựng một bể chứa nước bằng xi măng, hứng nước mạch ngầm trong lòng núi đá để có nước ngọt phục vụ dân địa phương và du khách.

Để ra chùa Hang, chỉ có một cửa ở phía bên phải động, trước cửa có hai trụ biểu hai bên ghi hai câu đối bằng chữ Hán mà ông Trần Dự (66 tuổi, ở khu dân cư số 3, thôn Đông, xã An Hải), người đang nắm giữ gia phả họ Trần cũng như giấy tờ và trông coi chùa Hang đọc là: “Nhất trần bát đảo bồ đề địa, Vạn thiện đồng quy thiểm khổ môn”. Rồi ông giải thích rằng đôi câu đối hàm ý họ Trần là người đầu tiên lập ra chùa Hang, và mọi điều tốt đẹp đều quy về nơi cửa Phật.

Chùa Đá trời sinh trên đảo Lý Sơn ảnh 1
 Gian thờ Phật nằm trọn trong hang rộng 20m, sâu chừng 24m và cao 3,2m

Hang rộng chừng 20m, có chiều sâu khoảng 24m, chỗ cao nhất của hang cũng chỉ hơn 3m. Trong không gian hạn chế đó, người xưa đã tận dụng những nhũ đá tự nhiên để sắp xếp chỗ thờ tự.

“Ngày xưa, ở chính giữa hang đã có đặt bàn thờ Tam thế Phật là Phật A di đà, Phật tổ Như Lai và Phật Di lặc. Bên trái bàn thờ có bàn thờ Tổ sư Đạt ma với bài vị bằng gỗ sơn son thếp vàng trên đó ghi rõ “Phụng tự Tây phương Đông Độ lịch đại tổ sư chi linh vị”, ông Dự cho biết.

Vào khoảng tháng 4/1993, các vị thủ tự đã đặt thêm một bàn thờ phía bên phải thờ tượng Quan Công có Quan Bình và Châu Thương đứng hầu, mỗi tượng chỉ cao chừng ba tấc. Cũng trong khoảng thời gian đó, bà con nhân dân đảo Lý Sơn vào làm ăn sinh sống tại TP.Hồ Chí Minh đã cúng cho chùa 3 pho tượng, được đặt phía trước bàn thờ Tam thế Phật, đó là các tượng Phật Chuẩn Đề 18 tay, tượng Bồ tát Quan Thế Âm và tượng Bồ tát Địa Tạng cao 1m.

Phía bên phải của hang sắp đặt 3 bàn thờ. Gần với thành hang là bàn thờ 12 vị Diêm vương. Kế đó là bàn thờ các vị thuộc Trần tộc, có bài vị ghi danh ba người gồm Phụng tự khai sáng Trần tổ công Thành, tự Đạo Châu, hiệu Huyền Huyên linh vị; Phụng tự Trần tổ công Tiềm, tự Ấn Long, hiệu Huyền Kính, cao lão hòa thượng linh vị; Phụng tự Trần tổ công Quận, tự Ấn Ngọc, hiệu Huyền Chơn hòa thượng linh vị. Bàn thờ thứ 3 thờ 7 vị tiền hiền khai phá lập ra làng An Hải với bài vị ghi rõ: “Phụng tự tiền hiền thất tổ tiên sanh tự vị chư thần vị”.

Ở phía bên trái của hang cũng có sắp đặt 3 bàn thờ, mỗi bàn thờ cũng cách nhau 1,4m. Trong cùng là bàn thờ Giám Trai, tiếp đến là bàn thờ Ngũ Lôi, và kế đó là bàn thờ Tiền vãng (thờ những người có đóng góp sức lao động xây dựng, tôn tạo chùa Hang trước đây).

Ngay sau cổng ra vào ở phía bên phải, có bàn thờ bổn đạo thiện nam, tin nữ và 3 ban thờ những người có công xây dựng, tu bổ chùa Hang. Trên vách tường xây cũng có hai câu đối chữ Hán được ông Dự đọc là: “Tịnh độ năng nhơn tiếp dẫn chúng sanh an dưỡng quốc/ Cư sĩ tấn hỏa bảo hộ hoàn toàn lạc tây phương”.

Theo ông Dự, tương truyền, xưa kia chùa Hang là một hang động và được người dân gọi là đường xuống âm phủ. Theo quan niệm thiện - ác song hành, gian chính của chùa Hang là dành cho cái thiện, những người biết ăn năn hối lỗi. Ngược lại, người mắc tội nếu không chịu quay đầu sẽ bị đày xuống âm phủ theo hang nhỏ hơn bên cạnh.

“Trước khi có con đường bê tông chạy đến đầu dốc xuống chùa, muốn đến chùa phải men theo sườn núi đầy trắc trở. Đoạn sườn núi ăn ra phía biển người ta gọi là cái meo, là nơi nhiều người không may trượt chân rơi xuống bãi đá biển và bị thương, thậm chí là mất mạng”, ông Dự cho biết.

Cũng Dự cũng cho rằng, ở phía sau nhà ông có một cái giếng đã bị vùi lấp và đó là cái giếng thông với chùa Hang. “Chùa Hang do các bậc tiền bối của họ Trần lập nên xưa kia, vì đường đến chùa vô cùng khó khăn nên mới đào đường hầm thông với chùa Hang. Đây cũng có thể là hầm mà xưa kia, thanh niên trong làng không muốn bị giặc bắt đi lính nên đào để trốn”, ông Dự cho biết.

Kiệt tác điêu khắc đá

Ông Dự bảo, theo gia phả của tộc họ Trần truyền lại, cách đây hơn 400 năm, không rõ dưới thời vua nào, có ông tổ họ Trần là Trần Thành làm quan lớn được nhà vua sai ra canh giữ đảo Lý Sơn. Tại đây, ông đã khai phá và lập ra chùa Hang. Sau đó, khoảng 100 năm, con cháu của ông là các ông Trần Châu, Trần Tiềm tiếp tục tôn tạo cho chùa được khang trang như ngày nay.

“Như vậy, hang động ở chùa Hang thì có từ ngàn xưa nhưng lịch sử chùa Hang ít nhất cũng đã khoảng 400 năm. Người xưa sử dụng hang đá như một ngôi nhà vĩnh cửu để lập ra chùa, đúng như sử sách ghi chép và đúng như tên chữ của chùa là Thiên Khổng Thạch”, ông Dự cho biết.

Nói về đảo Lý Sơn, mà trước đây vẫn gọi là cù lao Ré, sách “Đại Nam nhất thống chí” đã viết: “Cù lao Ré ở giữa biển, cách huyện Bình Sơn 65 dặm về phía Đông, xung quanh nổi cao, ở giữa trũng xuống ước mấy chục mẫu, nhân dân hai phường An Vĩnh và An Hải ở tại đấy.

Phía đông đảo có động, trên động có chùa mấy gian, có giường đá, kỷ đá, hai bên hữu động có giếng nước trong ngọt, xung quanh cây cối tốt tươi, khi có giặc biển, thì dân phường ẩn núp ở đấy. Đất sản nhiều đậu phụng và bắp”. Ngôi chùa được “Đại Nam nhất thống chí” nói đến có lẽ chính là chùa Hang.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, xung quanh chùa Hang là các vách đá tự nhiên. Do đó, đứng trong chùa Hang, nghe tiếng những hạt nước rơi tí tách từ những nhũ đá, ngửi mùi hương trầm quyện ra từ những ban thờ, người ta có cảm giac đang ở một thế giới huyền ảo, thuần khiết, thoát tục. Khí hậu trong hang vô cùng dễ chịu, trời nắng thi mát mẻ, trời lạnh thì ấm áp, là nơi ẩn núp của cư dân thời xưa mỗi khi có biến.

Vào trong chùa thắp một nén hương, khấn bái niệm Phật trong hương khói nghi ngút, ta có cảm tưởng như đang rơi vào cõi động tiên, thật thú vị biết bao. Những ai đã từng đến đây cũng đều cảm nhận được điều đó.

Ông Dự bảo, có du khách từ trong đất liền Quảng Ngãi ra đây, lần đầu tiên tham quan cảnh vật ở chùa Hang, các hang động đá xung quanh bờ biển, đã phải thốt lên: “Giá như những cảnh vật ở đây, hang động đá, vách đá dựng đứng, bờ biển đẹp này nằm ở tại bãi biển Mỹ Khê, hay một nơi nào đó trong đất liền thì tuyệt vời biết mấy, ai cũng có thể thưởng ngoạn”.

Nếu như đảo Lý Sơn là hiện thân cái đẹp của thiên nhiên thì chùa Hang là tác phẩm điêu khắc đá tuyệt vời mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho con người vùng đất này. Ở đấy, núi và biển liền kề dựa vào nhau, tôn nhau lên tạo thành một bức tranh tuyệt tác. Tuy đã có sự tôn tạo chăm chút của bàn tay con người, nhưng với ý thức hòa hợp với thiên nhiên, cảnh trí nơi đây vẫn còn giữ được nét hoang sơ vô cùng quyến rũ.

Chùa Hang có nguồn gốc là ngôi đền của người Champa thờ các vị thần Bà La Môn, sau này khi người Việt đến khai phá vùng đất lý sơn vào đầu thế kỷ XVII, chùa thành nơi tu tiên và sau này thành nơi thờ Phật.

Sân chùa trước cửa hang nhìn ra biển. Giữa sân có một hồ sen có tượng Phật. Quanh sân là những cây bàng biển cổ thụ đến hàng trăm năm. Hang sâu 24 m, bề rộng 20m, trần hang cao 3,2 m, diện tích 480 m². Trong hang có bàn thờ các Phật Di Đà, Như Lai, Di Lặc ở chính giữa; bàn thờ sư tổ Đạt Ma ở bên trái; bàn thờ 12 Diêm Vương, 3 vị thủy tổ kế tiếp phụng sự chùa (là Trần Công Thành, Trần Công Hiền, Trần Công Quân) và 7 vị tiền hiền làng An Hải. Các bệ thờ được tạo tác từ các nhũ đá tự nhiên ở nền hang, rồi được gia công thành các khám thờ.

Thắng Mỹ
Cùng chuyên mục

Đọc thêm

Phật hiệu A Di Đà và Pháp môn Tịnh độ

Phật hiệu A Di Đà và Pháp môn Tịnh độ
(PLVN) - Sức lan tỏa của pháp môn Tịnh độ và hình ảnh Đức Phật A Di Đà đã đi vào tâm thức người Việt Nam cả trong cách chào hỏi. Niệm Nam mô A Di Đà Phật là đã nói thật nhiều, nói hết tất cả những ý nghĩa sâu xa của Phật đạo...

Thắp sáng lòng biết ơn

Thắp sáng lòng biết ơn
(PLVN) - Thắp sáng lòng biết ơn và ý thức về nguồn cội chính là làm cho tâm thức văn hóa của dân tộc trở thành nguồn mạch, thành dòng nhựa sống nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và hiếu hạnh dân tộc Việt.

Hạ về, sen nở mừng ngày Phật đản sinh

Hạ về, sen nở mừng ngày Phật đản sinh
(PLVN) - Ngày mùng 8 tháng 4 là ngày Bụt ra đời. Gần 3000 năm trước, từ bước chân của con người vĩ đại ấy, nhân loại được biết đến một sự thật lớn: “Tất cả chúng sinh đều có tính Bụt”.

Những nẻo đường hóa duyên

Những nẻo đường hóa duyên
(PLVN) - Không nhất thiết phải tới chùa mới có thể làm công quả, mới có thể thấy Phật. Càng không phải ở nơi những vị tu hành, mới thấy được bóng dáng của một Thiền sư.

Ngũ giới tam quy và Lý triều Quốc sư Thánh tổ kệ dẫn (Tiếp theo và hết)

Chùa Keo Thái Bình.
(PLVN) - Trong cuốn Quốc âm sa di thập giới, phần lời tựa, thiền sư Như Trừng viết: “Nước Nam ta từ xưa đến nay, người xuất gia đều thọ tam quy ngũ giới”. Như vậy, khi Nguyễn Du viết Kiều: “Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia” là hoàn toàn phù hợp với kiến thức Phật học tại thời điểm lúc bấy giờ.

Điển tích Chùa Bổ Đà có vườn tháp lớn nhất Việt Nam, lưu giữ bộ mộc bản kinh Phật cổ nhất

Một góc chùa Bổ Đà.
(PLVN) - Chùa Bổ Đà là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt. Chùa là quần thể lớn, tọa lạc tại thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang - danh lam cổ tự nổi tiếng của xứ Kinh Bắc xưa. Chùa Bổ Đà có điển tích huyền bí, cũng như có vườn tháp lớn nhất Việt Nam, lưu giữ bộ mộc bản kinh Phật cổ nhất.

Dấu xưa thời khẩn hoang lập ấp ở ngôi đình cổ nhất phương Nam

Ngôi đình với kiến trúc truyền thống độc đáo vẫn đứng vững theo thời gian.
(PLVN) - Đình Thông Tây Hội (phường 11, quận Gò Vấp, TP HCM) đã có từ hơn 3 thế kỷ trước, từ thuở những nhóm cư dân đầu tiên xuôi Nam vượt ngàn dặm đường đến vùng Gia Định mở đất. Trải qua bao biến thiên dâu bể, ngôi đình cổ nhất đất Nam Bộ này vẫn còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa - tín ngưỡng tốt đẹp của dân tộc và nghệ thuật kiến trúc truyền thống độc đáo.

Ngôi đền thiêng thờ vị thần “hộ dân bảo quốc” suốt 4000 năm lịch sử

Toàn cảnh đền Đồng Cổ.
(PLVN) - Đó là đền Đồng Cổ thờ thần Đồng Cổ - vị thần có công lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Ngôi đền tọa lạc tại làng Đan Nê (xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) tương truyền có từ thời Hùng Vương, soi bóng xuống hồ bán nguyệt, bên cạnh là núi Tam Thai có quán Triều Thiên trên đỉnh nhìn xuống toàn cảnh sông Mã.

Ngôi đền thiêng 1500 tuổi nơi phát tích bài thơ Thần “Nam quốc sơn hà“

Đền Xà.
(PLVN) - Đền Xà thờ đức thánh Tam Giang, tọa lạc tại thôn Xà Đoài, xã Tam Giang (huyện Yên Phong, Bắc Ninh) có niên đại từ thế kỷ 6 đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1988. Ngôi đền thiêng cũng là nơi phát tích bài thơ Thần “Nam quốc sơn hà” - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. 

Đình Quan Lạn – Ngôi đình thiêng 300 tuổi bên sóng nước Vân Đồn

Đình Quan Lạn đã có lịch sử hơn 300 năm.
(PLVN) - Đình Quan Lạn (xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) được xây dựng ở giữa làng, nhìn ra vịnh biển nơi có ba hòn đảo tạo nên bức bình phong, phía sau tựa vào năm ngọn núi... Các bậc tiền đã xây dựng ngôi đình Quan Lạn với lối kiến trúc độc đáo ghi dấu ấn văn hóa của người Việt trên vùng biển Đông Bắc. Điều đó không chỉ được thể hiện qua sự độc đáo của kiến trúc mà còn ngay trong lễ hội có một không hai của đình Quan Lạn. 

Ngôi đình 300 tuổi đẹp nhất xứ Kinh Bắc còn tồn tại đến ngày nay

Đình Bảng là một trong những ngôi đình làng đẹp nhất xứ Kinh Bắc.
(PLVN) - Trong suốt gần 300 năm, trải qua hàng loạt những biến cố của lịch sử dân tộc ngôi đình làng Đình Bảng (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) vẫn đứng vững. Đình làng Đình Bảng từ lâu đã được coi là một trong những ngôi đình đẹp nhất xứ Kinh Bắc và cả Việt Nam, bởi đây là một công trình kiến trúc cổ đồ sộ chứa đựng giá trị nghệ thuật trang trí gỗ truyền thống đặc sắc. 

Cổ tự trăm tuổi với tập tục “đánh kẻ tiểu nhân” ở Sài Gòn

 Hội quán Ôn Lăng được cộng đồng người Hoa xây dựng năm 1740.
(PLVN) - Được xây dựng từ gần 300 năm trước, Hội Quán Ôn Lăng (đường Lão Tử, phường 11, quận 5) là điểm đến linh thiêng trong cộng đồng người Hoa ở TP HCM. Nơi đây nhiều năm qua được biết đến với tập tục có một không hai - “đánh kẻ tiểu nhân”, mang ý nghĩa cầu may mắn, bình an đồng thời xua đuổi những điều xui xẻo, những “kẻ tiểu nhân” đi theo quấy rối mình.

Bí ẩn xung quanh hai pho tượng trong ngôi chùa Cầu Đông

Tượng thờ Thái sư Trần Thủ Đô và vợ Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung.
(PLVN) - Theo tài liệu nghiên cứu về 1000 năm Thăng Long do nhà văn Tô Hoài và nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc chủ biên thì chùa Cầu Đông là chùa duy nhất ở Hà Nội hiện nay thờ vợ chồng Thái sư Trần Thủ Độ. Tuy nhiên, nguồn gốc và lịch sử về hai pho tượng này đến giờ vẫn là một bí ẩn.