Chùa cổ Hải Phòng - một thành tố của di sản văn hoá dân tộc cần được quan tâm

Đại đức Thích Thanh Giác

(Phó Ban Trị sự Thành Hội Phật giáo Hải Phòng)

Đạo Phật qua hình ảnh của các ngôi chùa, ngọn tháp từ lâu đã trở thành biểu trưng đặc sắc của sắc thái văn hoá Việt Nam. Hệ thống chùa cổ ở Hải Phòng là một bộ phận thiết yếu của di sản văn hoá dân tộc và là nguồn sử liệu trực tiếp cung cấp những thông tin quan trọng để khôi phục các trang sử hào hùng của dân tộc, của lịch sử văn hoá, lịch sử Phật giáo Việt Nam.

     Các công trình kiến trúc chùa chiền, nghệ thuật điêu khắc, tượng pháp và nội dung hệ thống minh bia, minh chuông, kinh sách đạo Phật là những thông điệp quý hiếm của tiền nhân truyền cho hậu thế, trong đó gửi gắm bao tâm tư về sự nghiệp xây đắp nước nhà.

     Theo nghiên cứu lịch sử, vùng đất Đồ Sơn – An Lão ngày nay từng là nơi đón nhận ánh sáng Phật Pháp truyền vào nước ta sớm nhất (khoảng cuối thế kỷ thứ 1 trước công nguyên), sớm hơn cả trung tâm Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh). Thư tịch cổ cho biết, đạo Phật du nhập vào Tiên Lãng từ thế kỷ thứ 5 – 6. Thời gian ấy đã xuất hiện một trung tâm Phật giáo ở chùa Đót (xã Cấp Tiến, Tiên Lãng) với hệ thống chùa chiền nhiều toà ngang, dãy dọc, bảo tháp quy mô, tượng Phật đồ sộ. Chùa Đót phát triển trải qua các triều Lý, Trần, Lê, Mạc và là cơ sở cho sự ra đời của hàng chục ngôi chùa lớn nhỏ khác trong vùng, trong đó có chùa Thiên Tộ (Phác Xuyên, Bạch Đằng) xây dựng hẳn một gác kinh. Từ thời Tiền Lê, chùa chiền bắt đầu nở rộ trên đất Hải Phòng, tiêu biểu như chùa Mỹ Cụ, Dư Hàng, Vẻn… Sang thời nhà Lý (1010 – 1225), hàng loạt danh lam được khởi công xây dựng trên đất Hải Phòng như tháp Tường Long (Đồ Sơn), do vua Lý Thánh Tông trực tiếp chỉ đạo việc hưng công, chùa Long Hoa trên núi Voi (An Lão), chùa Thường Sơn, Phù Lưu (Thuỷ Nguyên)… Chùa Phù Lưu và Thường Sơn là 2 trong số 72 ngôi chùa danh lam thắng tích do Đức Tổ Sư Non Đông quê ở làng Dưỡng Mông (tức làng Muống), Kim Thành, Hải Dương xây dựng. Tiếp nối thời Lý sang đời Trần, tuy nhịp độ, quy mô có khác đi, nhưng nhìn chung, chùa chiền ở Hải Phòng vẫn tiếp tục phát triển.

     Hệ thống chùa cổ Hải Phòng hiện còn bảo tồn được nhiều tượng pháp, bia ký, đồ thờ thời nhà Mạc (1527 – 1592). Trong đó, tiêu biểu như các chùa Trà Phương, Nhân Trai, Đại Trà, Phúc Hải… Đến nay, trong tổng số hơn 500 ngôi chùa hiện có trên địa bàn thành phố, có 35 ngôi chùa cổ được xếp hạng di tích cấp quốc gia, 60 ngôi chùa được đăng ký di tích cấp thành phố (chiếm khoảng 20% tổng số chùa trên địa bàn Hải Phòng).Hầu hết chùa Hải Phòng được xếp hạng di tích đều là chùa cổ, có giá trị kiến trúc tiêu biểu. Có chùa vừa là di tích lịch sử, vừa là di tích văn hoá, di tích cách mạng, di tích kháng chiến.

     Những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, công tác bảo tồn di tích lịch sử văn hoá ở Hải Phòng đạt được những thành tựu đáng kể. Cùng với chương trình mục tiêu chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá của ngành Văn hoá - Thông tin, chủ trương xã hội hoá công tác bảo tồn di tích của Nhà nước và cuộc vận động xây dựng chùa cảnh tinh tiến của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam thành phố, hệ thống chùa cổ của Hải Phòng được sửa chữa, xây dựng ngày một khang trang. Theo thống kê, trong 15 năm (1989 – 2004), bà con Phật tử trong và ngoài thành phố đóng góp công sức và hàng trăm tỷ đồng bảo dưỡng, tôn tạo, phục hồi và xây dựng chùa, tháp, tô tượng, đúc chuông… Ngày càng có nhiều chùa cảnh khang trang như chùa Đỏ, chùa Vẽ, chùa An Đà…

     Tuy nhiên, vẫn còn nhiều chùa cổ đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Một số ngôi chùa nổi tiếng một thời thực sự “mất tích” trên bản đồ đất nước như chùa tháp Tường Long (Đồ Sơn), chùa Long Hoa (núi Voi, An Lão), chùa Nguyệt áng (An Lão)… Đây là hậu quả đáng tiếc của việc trùng tu tôn tạo không đúng phương pháp khoa học, chối bỏ nguyên gốc di tích. Nhận thức của cộng động về di sản văn hoá chưa thật sâu sắc nên vẫn còn hiện tượng các công trình xây dựng mới lấn át phá vỡ cảnh quan di tích. Mặt khác, do việc phân cấp quản lý di tích chưa được thực hiện một cách nghiêm túc và cụ thể dẫn tới tình trạng trông chờ kinh phí lẫn nhau giữa các cấp, hoặc có tình trạng, chính quyền địa phương can thiệp quá sâu hoặc khoán việc bảo vệ, tu sửa chùa chiền cho tăng ni và phật tử. Mặt khác, quá trình lập hồ sơ xếp hạng di tích cho các chùa thời gian qua không quan tâm đến việc tham khảo ý kiến các tăng ni trụ trì và Thành Hội Phật giáo, cơ quan chủ quản. Đáng lo ngại nhất là nhiều bia ký, minh chuông của nhiều chùa cổ ở Hải Phòng bị thất lạc, mài mòn. Trong khi đó, đây là nguồn tư liệu trực tiếp, tin cậy nhất đối với việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử Phật giáo nói riêng và lịch sử địa phương, đất nước nói chung.

      Nên chăng, cần có chính sách khuyến khích các cơ quan lưu trữ Trung ương kết hợp với chính quyền các cấp đầu tư phục dựng lại hệ thống bia ký, minh chuông quý giá này (đối với những di tích mà các cơ quan nghiên cứu còn lưu giữ được). Mặt khác, để phát huy tối đa tiềm năng du lịch của hệ thống chùa cổ, cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp mở mang các tua du lịch tinh thần phục vụ khách trong và ngoài nước muốn tìm hiểu về đạo Phật. Cuộc hành hương tín ngưỡng về chùa không chỉ có ý nghiã viếng thăm một địa danh mà còn là dịp học hỏi và trải nghiệm truyền thống văn hoá Việt Nam, tận hưởng thiên nhiên, góp phần giúp con người sống tốt đẹp hơn./.