Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự kiện giải phóng Hải Phòng

Do Hải Phòng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng nên Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc tiếp quản khu tập kết 300 ngày, trọng tâm là thành phố Hải Phòng, vì giải phóng Hải Phòng là giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Tháng 9-1954, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết, khẳng định: 'Việc chúng ta tiếp quản được những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng....khiến chúng ta không những có nông thôn, mà còn có thành thị, đường sắt, cửa biển, vùng công nghiệp....Đó là một biến đổi lớn, ta có đủ điều kiện kiến thiết theo quy mô một quốc gia'. Từ đó cho đến ngày hoàn thành công tác tiếp quản, Hồ Chủ tịch thường xuyên theo sát tình hình Hải Phòng và có những chỉ đạo cụ thể. Một ngày sau khi Hải Phòng được giải phóng, ngày 14-5-1955, Bác Hồ có thư gửi đồng bào Hải Phòng;

'Cùng đồng bào thành phố Hải Phòng,

Do quân và dân ta đoàn kết nhất trí, kháng chiến anh dũng, mà chiến tranh đã chấm dứt, hoà bình đã thắng lợi. Nước Pháp phải công nhận nước ta độc lập và thống nhất. Những vùng quân đội Pháp chiếm đóng trước đây lần lượt được giải phóng. Sau 8 năm kháng chiến, đồng bào Hải Phòng lại được sống tự do. Đó là một thắng lợi lớn. Tôi thay mặt Chính phủ thân ái gửi lời thăm hỏi đồng bào'.

Bác cũng điện gửi các đơn vị bộ đội và cán bộ, công nhân viên các ngành quân, dân, chính, đảng phụ trách tiếp quản khu ngoại vi Hải Phòng. Phần đầu của bức điện, Bác viết:'Các đơn vị bộ đội và cán bộ, công nhân viên các ngành, Quân, Dân, Chính, Đảng đã tiếp thu khu chu vi Hải Phòng đúng kế hoạch. Thế là tốt, Bác thay mặt Đảng và Chính phủ khen ngợi các cô, các chú....Các đơn vị bộ đội và các cơ quan sẽ bình nghị cẩn thận những đơn vị và chiến sĩ, cán bộ công nhân viên xuất sắc nhất, Uỷ ban quân chính sẽ xét lại cẩn thận, rồi đề nghị lên Chính phủ khen thưởng'.

Báo Nhân Dân ngày 18-5-1955 đăng bài của Bác với bút danh C.B, nhan đề SAU 83 NĂM. Bài báo ngắn gọn, sâu sắc như một tuyên ngôn thắng lợi của cuộc kháng chiến ái quốc thần thánh của nhân dân Việt Nam, của nhân dân Hải Phòng và khẳng định vị trí chiến lược quan trọng của Hải Phòng đối với cả nước. Mở đầu, Bác viết: 'Năm 1872, chiếc tàu đầu tiên của Pháp vào bến Hải Phòng. Từ đó về sau, quân đội thực dân Pháp vào Hải Phòng, rồi toả ra xâm lược những tỉnh khác ở miền Bắc. Thực dân Pháp vơ vét tài sản của dân ta, đưa đến Hải Phòng, rồi mang về Pháp. Chúng chở hàng hoá Pháp sang Hải Phòng, rồi đưa đi bán khắp chợ khắp quê, đè nén tư sản dân tộc Việt Nam không phát triển được. Từ đó cũng như miền Nam, nhân dân miền Bắc biến thành nô lệ'. Bác mô tả ngày thành phố Hải Phòng được giải phóng với niềm tự hào: 'Hôm 13-5, một lính lê dương từ từ hạ lá cờ Pháp xuống. Viên chỉ huy Pháp dõng dạc tuyên bố trước đội quân cuối cùng của y . Trên miền Bắc yêu quý của chúng ta, vết thống trị của thực dân đến đây là quét sạch (chính vì vậy, mà tình hữu nghị giữa 2 dân tộc Việt-Pháp cũng được tăng cường)'.

Người dân Hải Phòng, cách đây 50 năm không thể nào quên không khí rạo rực, tưng bừng của ngày tiếp quản giải phóng thành phố. Đoàn quân từ các cửa ô tiến vào trung tâm khi quân Pháp lầm lũi xuống tàu rời bến Cảng. Bác viết tiếp:' Cán bộ và bộ đội ta hiên ngang tiến vào tiếp quản. Trải qua tủi nhục hơn 80 năm, nay Hải Phòng đã vươn mình dậy, giải phóng. Khắp phố phường cờ đỏ sao vàng tung bay-rực rỡ như hoa nở mùa xuân. Hàng vạn đồng bào, già trẻ gái trai, đủ các tấng lớp, toả ra hoan nghênh bộ đội và cán bộ. Nét mặt mọi người sung sướng vui mừng, như mùa xuân hoa nở. Những năm chịu đựng gian khổ, đoàn kết chiến đấu, đã kết quả vẻ vang: miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, Hải Phòng đã giải phóng hoàn toàn!'.

Hai mươi ngày sau giải phóng, ngày 2-6-1955, nhân dân Hải Phòng vinh dự đón Bác về thăm lần thứ hai. Tại Nhà hát lớn thành phố, Bác nói chuyện với đại biểu nhân dân. Bác nhắc lại những kỷ niệm về thăm kỳ trước, tấm lòng của nhân dân Hải Phòng đối với Bác và giao nhiệm vụ cho từng ngành, từng giới: Bộ đội và Công an, công nhân, nông dân, trí thức, các nhà công thương, thanh niên, nhi đồng, các cụ phụ lão....Bác nói: 'Năm 1946, tôi về thăm đồng bào (20-10-1946). Cách ít tháng sau thì bắt đầu kháng chiến. Từ lần gặp trước đến lần này, thấm thoắt đã 10 năm. Trong 10 năm ấy, biết bao nhiêu tình! Tuy xa cách nhau, nhưng Đảng, Chính phủ và tôi luôn luôn nhớ đến đồng bào. Đồng bào cũng luôn luôn nhớ đến tôi'.

Tình cảm đặc biệt Bác dành cho Hải Phòng càng khẳng định tầm vóc và ý nghĩa của sự kiện thành phố Hải Phòng được giải phóng đối với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.