Chính phủ ban hành 6 nghị định về tiền lương

Ngày 14-12, Chính phủ ban hành cùng lúc 6 Nghị định (NĐ) về chế độ tiền lương (TL) và trợ cấp bảo hiểm xã hội. Căn cứ các NĐ ban hành, các bộ, ngành chức năng sẽ đưa ra hướng dẫn cụ thể hơn để thực hiện việc chi trả TL theo quy định, tính từ 1-10-2004.

6 NĐ này bao gồm: NĐ số 203/2004/NĐ-CP về mức lương tối thiểu; NĐ 204/NĐ-CP về chế độ TL đối với cán bộ, công chức, viên chức (CB,CC,VC) và lực lượng vũ trang; NĐ 205/2004/NĐ-CP về hệ thống thang bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các Cty nhà nước (CTNN); NĐ 206/2004/NĐ-CP về quản lý lao động, TL và thu nhập trong các CTNN; NĐ 207/2004/CP quy định chế độ TL, tiền thưởng và chế độ trách nhiệm đối với các thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc CTNN; NĐ 208/2004/NĐ-CP về điều chỉnh lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Theo NĐ 203/NĐ-CP, mức lương tối thiểu chung (MLTTC) được quy định là 290.000đ/tháng; được coi là ' MLTTC cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường'. Mức lương này sẽ điều chỉnh tuỳ theo mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung cầu lao động trong từng thời kỳ. Đây là căn cứ tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp trong khu vực nhà nước, các mức lương ghi trong hợp đồng lao động đối với các doanh nghiệp (DN) xây dựng thang lương, bảng lương...MLTTC này không chỉ áp dụng cho các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, các Cty hoạt động theo Luật DN và Luật DN nhà nước, các hợp tác xã... mà còn áp dụng để tính trợ cấp thôi việc cho số năm làm việc từ 2004 trở đi đối với lao động dôi dư, người thôi việc do tinh giản biên chế theo một số quy định hiện hành. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ công bố MLTTC cho từng thời kỳ, hệ số điều chỉnh tăng thêm so với MLTTC được áp dụng cho các Cty hoạt động theo Luật DN nhà nước; Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng hệ số điều chỉnh tăng thêm so với MLTTC áp dụng cho các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chính trị-xã hội để trình Chính phủ thông qua.

Theo NĐ số 204/2004/NĐ-CP về chế độ TL với CB, CC, VC và lực lượng vũ trang thì việc trả lương, nâng lương... sẽ linh hoạt hơn trước. Cụ thể, CB, CC, VC và các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang khi thay đổi công việc thì được chuyển xếp lại lương và phụ cấp chức vụ (nếu có) cho phù hợp với công việc mới đảm nhiệm. Trong trường hợp thôi chức danh lãnh đạo (trừ việc bị kỷ luật) để làm công việc khác mà mức lương chức vụ hoặc phụ cấp chức vụ thấp hơn thì được bảo lưu mức lương cũ trong 6 tháng, sau đó sẽ được xếp lại theo mức lương của công việc mới. Nghị định cũng đưa ra nhiều quy định mới về chế độ phụ cấp lương. Ví dụ, phụ cấp cho người kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo bằng 10% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có). Người kiêm nhiệm nhiều chức danh lãnh đạo chỉ hưởng một mức phụ cấp. Phụ cấp đặc biệt áp dụng cho các đối tượng làm ở đảo xa, vùng biên giới có điều kiện khó khăn ở mức 30%- 50%-100% mức lương đang hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) hoặc phụ cấp quân hàm hiện hưởng (với hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang). CB, CC, VC đến làm ở vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế, đảo xa đất liền có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn được hưởng mức phụ cấp thu hút theo 4 mức: 20%-30%-50% hoặc 70% mức lương đang hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có). Nghị định trên cũng quy định việc nâng bậc lương thường xuyên phải thực hiện trên cơ sở kết quả hoàn thành nhiệm vụ của CB, CC, VC và thời gian giữ bậc trong ngạch hoặc chức danh. CB, CC, VC 'lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ mà chưa xếp bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc trong chức danh' thì được xét nâng một bậc lương trước thời hạn 12 tháng. Nguồn kinh phí để thực hiện chế độ tiền lương mới theo Nghị định này lấy từ khoản tiết kiệm 10% chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất lương) với từng cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; từ việc sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ của đơn vị sự nghiệp có thu (riêng ngành y tế được sử dụng tối thiểu 35%); từ việc sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ cho các cơ quan hành chính có thu. Ngân sách địa phương sử dụng 50% số tăng thu giữa dự toán kế hoạch so với dự toán năm trước liền kề do Thủ tướng giao và 50% số tăng thu giữa thực hiện so với dự toán năm kế hoạch do Thủ tướng giao để thực hiện tăng lương. Ngân sách trung ương chỉ bổ sung kinh phí để thực hiện chế độ tiền lương mới trong trường hợp các bộ, ngành, địa phương thực hiện các điều trên nhưng còn thiếu.

NĐ số 205/2004/NĐ-CP quy định về hệ thống thang, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các CTNN (áp dụng cho các CTNN và các Cty hạch toán độc lập của Tổng Cty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập) quy định cụ thể về các thang, bảng lương cho công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh, bảng lương của tổng giám đốc, giám đốc...Phụ cấp khu vực áp dụng đối với người của CTNN làm ở vùng xa xôi, hẻo lánh, khí hậu xấu có 7 mức: 0,1; 0,2... đến 0,7 và 1,0 so với MLTTC; phụ cấp độc hại, nguy hiểm gồm 4 mức từ 0,1 đến 0,4 so với MLTTC; phụ cấp lưu động gồm 3 mức: 0,2; 0,4 và 0,6 so với MLTTC áp dụng với người làm nghề hoặc công việc thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc và nơi ở.

NĐ 206/NĐ-CP quy định về quản lý lao động, TL và thu nhập tại CTNN. Chính phủ quy định CTNN được áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm để làm cơ sở tính đơn giá TL thì 'không được vượt quá 2 lần so với MLTTC' . Khi áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm, CTNN phải đảm bảo đã nộp ngân sách đầy đủ, mức tăng TL bình quân phải thấp hơn mức tăng năng suất lao động bình quân và lợi nhuận kế hoạch không thấp hơn so với lợi nhuận thực hiện của năm trước liền kề.

NĐ 207/NĐ-CP về chế độ lương, thưởng, trách nhiệm với thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc CTNN quy định rõ việc TL, phụ cấp cho các đối tượng trên được tính căn cứ vào việc thực hiện lợi nhuận và năng suất lao động của Cty ( lợi nhuận, năng suất tăng thì TL, phụ cấp tăng). Quỹ TL dành cho các đối tượng này được xác định theo năm, tháng và được tạm ứng tối đa bằng 80% quỹ TL kế hoạch.

Riêng NĐ 208/NĐ-CP quy định về việc điều chỉnh lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội cho các đối tượng như CB, CC, VC, lực lượng vũ trang, người làm công tác cơ yếu hưởng lương hưu hàng tháng; CC, VC và người lao động hưởng lương hưu hàng tháng nhưng vừa có thời gian hưởng TL theo thang, bảng lương nhà nước quy định vừa không theo thang, bảng lương này; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng; một số đối tượng CN, VC và cán bộ xã, phường, thị trấn hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; nếu các đối tượng trên đã hưởng lương hưu trước ngày 1-10-2004 sẽ được tăng thêm mức lương hưu, trợ cấp hiện hưởng 10%. Thời gian được tăng là từ 1-10-2004 đến ngày 30-9-2005. Với người nghỉ hưu từ ngày 1-10-2004 đến ngày 30-9-2005, lương hưu được điều chỉnh một lần khi nghỉ hưu với mức tăng tương ứng với thời điểm nghỉ hưu.

Các NĐ trên có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

(tổng hợp)