Chi hơn 1.700 tỷ đồng để bảo vệ “búp trên cành”

Tháng hành động Vì trẻ em năm 2011 chính thức diễn ra hôm nay và  kéo dài đến hết ngày 30/6. Năm 2011 cũng đánh dấu bước chuyển biến lớn của Việt Nam trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em khi mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 với tổng kinh phí 1.755,5 tỷ đồng.

Tháng hành động Vì trẻ em năm 2011 chính thức diễn ra hôm nay và  kéo dài đến hết ngày 30/6. Năm 2011 cũng đánh dấu bước chuyển biến lớn của Việt Nam trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em khi mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 với tổng kinh phí 1.755,5 tỷ đồng.

Nụ cười trẻ thơ. Ảnh minh họa
Nụ cười trẻ thơ. Ảnh minh họa

Theo đó, nhằm hướng tới xây dựng một môi trường an toàn, thân thiện và lành mạnh cho mọi trẻ em Việt Nam, góp phần thúc đẩy thực hiện quyền của trẻ em tốt hơn, nhất là quyền được bảo vệ, được bảo đảm an toàn, giảm thiểu sự bất bình đẳng về mức sống và cơ hội phát triển giữa nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nghèo với các nhóm trẻ em khác; góp phần quan trọng vào việc xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng trong tương lai, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 267/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 (gọi tắt là Chương trình).

Để tất cả trẻ em đều được bảo vệ

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ. Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu, loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực. Trợ giúp, phục hồi kịp thời cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, tạo cơ hội để các em được tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển.

Trong đó, các mục tiêu cụ thể của Chương trình là: 1. Giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt xuống dưới 5,5% tổng số trẻ em; 2. 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, tái hòa nhập và có cơ hội phát triển; 3. 70% trẻ em được phát hiện có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt được can thiệp để giảm thiểu, loại bỏ nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; 4. 50% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và đưa vào hoạt động có hiệu quả hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em.

Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, các hoạt động của Chương trình sẽ được triển khai một cách đồng bộ, từ việc truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bảo vệ trẻ em, nâng cao năng lực cán bộ, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, xây dựng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước và tăng cường theo dõi, giám sát đánh giá. Điều kiện, tiền đề để thực hiện Chương trình là Trung ương và địa phương phải bố trí kinh phí, kiện toàn đội ngũ cán bộ, cộng tác viên thôn bản và thiết lập cơ chế thực hiện Chương trình phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của nước ta.

5 dự án Vì trẻ em

Chương trình có kết cấu được xây dựng rất khoa học gồm có 5 dự án.

Một là dự án truyền thông, giáo dục, vận động xã hội. Mục tiêu của dự án này là giúp 90% gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội và trẻ em được nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi về bảo vệ trẻ em.

Tình trạng trẻ em bị ngược đãi, xâm hại tình dục, bạo lực, buôn bán, bị bóc lột sức lao động vẫn diễn biến phức tạp:

 Hàng năm nước ta có khoảng 3.000-4.000 vụ ngược đãi, bạo lực trẻ em. Trong giai đoạn 2006-2010, trung bình một năm có khoảng 800 vụ xâm hại tình dục trẻ em với khoảng 900 em là nạn nhân, đặc biệt nghiêm trọng là một số nạn nhân mới chỉ ở độ tuổi 5-8. Bên cạnh đó, tính đến cuối năm 2009 cả nước vẫn còn khoảng 26.000 trẻ em trong độ tuổi 8-15 phải lao động trong điều kiện nặng nhọc độc hại, nguy hiểm, trong số này có một số em phải bị bóc lột sức lao động ở mức thậm tệ như phải bán hàng rong ban đêm đến khoảng 2-3 giờ sáng, phải bán báo thuê suốt cả ngày...

TS.Nguyễn Hải Hữu (Cục trưởng Cục Bảo vệ, Chăm sóc trẻ em - Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội)

Dự án thứ 2 nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em.

Dự án đề ra mục tiêu: 100% cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em từ trung ương đến cấp huyện được nâng cao năng lực về quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. 50% cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở cấp xã và cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở thôn, xóm, bản, làng, cụm dân cư được nâng cao năng lực về bảo vệ trẻ em.

Dự án thứ 3 xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em. Kỳ vọng của dự án là 50% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và tổ chức vận hành hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, bao gồm Ban điều hành và Nhóm công tác liên ngành bảo vệ trẻ em cấp tỉnh, Trung tâm công tác xã hội trẻ em cấp tỉnh; Ban điều hành và Nhóm công tác liên ngành bảo vệ trẻ em cấp huyện, Văn phòng tư vấn trẻ em cấp huyện (ở ít nhất 02 huyện/tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương); Ban bảo vệ trẻ em cấp xã, Điểm tư vấn ở cộng đồng, trường học, Mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở thôn, xóm, bản, làng, cụm dân cư (ở tất cả các xã thuộc 02 huyện đã được chọn).

Dự án thứ 4 xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng. Nhờ dự án này, 80% trẻ em khuyết tật sẽ được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình và phục hồi chức năng, giáo dục và các dịch vụ công cộng; 90% trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được chăm sóc; giảm hàng năm 10% số trẻ em bị xâm hại tình dục, bị bạo lực; 100% trẻ em được phát hiện bị xâm hại tình dục, bị bạo lực được can thiệp, trợ giúp; giảm tỷ lệ trẻ em lang thang xuống 7/10.000 trẻ em; giảm tỷ lệ trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại xuống 10/10.000 trẻ em; giảm tỷ lệ người chưa thành niên vi phạm pháp luật xuống 7/10.000 trẻ em.

Dự án thứ 5 nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em với mục tiêu: Rà soát, đánh giá tình hình thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em để sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung theo hướng thân thiện với trẻ em, tăng cường tính phòng ngừa, bảo vệ trẻ em một cách toàn diện. Xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, làm cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện pháp luật, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Công ước quốc tế về quyền trẻ em.

1.755,5 tỷ đồng: Không chỉ từ ngân sách

Tổng kinh phí để thực hiện Chương trình là 1.755,5 tỷ đồng, được huy động từ các nguồn vốn: Ngân sách Trung ương; ngân sách địa phương; vốn viện trợ quốc tế; vốn huy động xã hội, cộng đồng và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Chương trình sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng của công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Việt Nam. Trong đó, có thể nhìn thấy rõ nhiều ý nghĩa tích cực như xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh cho mọi trẻ em; giảm thiểu số lượng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; giảm bớt sự bức xúc trong xã hội có liên quan đến ngược đãi, xâm hại và bóc lột trẻ em; nâng cao nhận thức của gia đình, cộng đồng xã hội và chính trẻ em về việc thực hiện các quyền của trẻ em, đặc biệt là quyền được bảo vệ và an toàn của trẻ em...

Tỉ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn cao

Hiện nay, Việt Nam vẫn còn 1,53 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (HCĐB), chiếm 6% so với tổng số trẻ em và chiếm 1,79% so với dân số.

Nếu tính cả nhóm trẻ em nghèo (2,75 triệu), trẻ em bị bạo lực, bị buôn bán và bị tai nạn thương tích thì tổng cộng có khoảng 4,28 triệu chiếm 5% dân số và khoảng 18,2% so với tổng số trẻ em.

Bên cạnh đó, có khoảng 6,7% trẻ em trong độ tuổi từ 5-14 tham gia các hoạt động kinh tế; trên 287.000 trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; hàng triệu trẻ em sống trong các gia đình có vấn đề xã hội như bố mẹ ly hôn, ly thân, phạm tội phải vào tù, có người mắc tệ nạn xã hội, tình trạng trẻ em bị sao nhãng diễn ra khá phổ biến ở nhiều gia đình kể cả gia đình nghèo và gia đình khá giả...

Đa phần nhóm trẻ này vẫn gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận với các dịch vụ phúc lợi xã hội dành cho trẻ em và theo quan niệm của cộng đồng quốc tế thì đây là nhóm trẻ em có nguy cơ cao bị tổn thương.

TS.Nguyễn Hải Hữu 

Triêu Hà