Mảnh đất ngàn mét vuông và hai chữ tình thân: Khép lại một hồ sơ, mở ra bao trăn trở
Câu chuyện phía sau mảnh đất 1.530m² trong một gia đình ba thế hệ
Trong công tác thi hành án dân sự, mỗi bản án không chỉ là một quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mà còn là sự kết nối của những mối quan hệ xã hội, những số phận con người và những câu chuyện đời sống phía sau nó. Có những trường hợp tưởng dễ dàng trên giấy tờ, nhưng khi đi vào thực tế lại trở thành một hành trình đầy khó khăn, bởi lẽ trong đó không chỉ chứa đựng quyền và nghĩa vụ, mà còn là tình thân, trách nhiệm và những lo toan mưu sinh.
Rào cản đầu tiên: Bản án và sự chống đối
Tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - tỉnh Đắk Lắk, có thụ lý vụ tranh chấp quyền sử dụng diện tích đất 1.530,303m² đã được Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh Đắk Lắk) giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2022/DS-ST ngày 26/12/2022. Theo đó, Tòa án đã xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên, buộc ông N.V.T và bà L.T.S (người phải thi hành án) có trách nhiệm trả lại diện tích đất nói trên cho vợ chồng ông N.V.L và bà L.T.L (người được thi hành án) theo ranh giới cụ thể đã được xác định trong bản án.
Không đồng ý với quyết định của cấp sơ thẩm, vợ chồng ông N.V.T và bà L. T.S có đơn phản tố và vụ việc tiếp tục được xem xét theo trình tự phúc thẩm tại Bản án số 45/2023/DS-PT ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên (nay thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk). Bản án phúc thẩm đã chấp nhận toàn bộ nội dung phản tố của ông T và bà S, công nhận diện tích 1.530,303m² này là của vợ chồng ông T và bà S.
Chưa dừng lại ở đó, vụ việc tiếp tục được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm tại Quyết định số 49/2023/DS-GĐT ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng (nay là Tòa án nhân dân tối cao). Quyết định giám đốc thẩm đã tuyên hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số: 45/2023/DSPT ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên (Nay là Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk) và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2022/DS-ST ngày 26/12/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa.
Tại Quyết định thi hành án số: 57/QĐ-CCTHADS ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, tỉnh Đắk Lắk) có nội dung:
“Buộc ông N.V.T, bà L.T.S trả lại diện tích đất 1.530,303m² thuộc đất khu B giới cận: Đông giáp đất ông Đặng Cạnh; Tây giáp đất ông Nguyễn Văn Mười, Phan Thị Cơ, Đoàn Văn Quang, đường đi; Nam giáp đất bà Đỗ Thị Hạnh, Đỗ Ngọc Minh, Hà Như Bảo Tường; Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị Hải Yến, Trần Thị Hoàng, Trần Thị Thu Huyền cho ông N.V.L và bà L.T.L.”
Bước đầu của việc tiếp cận Bản án
Ngay từ khi tiếp nhận vụ việc, đồng chí Chấp hành viên Nguyễn Hoàng Trọng Thi đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu các Bản án, Quyết định của Tòa các cấp. Tuy trên nội dung Quyết định ngắn gọn buộc thực hiện công việc là giao 1.530,303m² nhưng với kinh nghiệm nhiều năm công tác thi hành án, đồng chí Thi biết rằng việc càng ngắn thì sẽ có nhiều điều phức tạp phía sau những dòng chữ ấy.
Thật vậy, khi giở từng trang hồ sơ, đồng chí nhận ra rằng đây không đơn thuần là một vụ tranh chấp đất mà đây là câu chuyện của những người cùng huyết thống, anh em ruột thịt trong một gia đình, giữa họ có chung tuổi thơ trong một mái nhà, có chung câu hát ru à ơi của mẹ.
Ban đầu đồng chí Thi cũng làm các thủ tục theo quy định pháp luật, chuyển giao Quyết định thi hành án cho hai bên đương sự, gửi giấy triệu tập vợ chồng ông T và bà S đến trụ sở cơ quan thi hành án để giải quyết việc thi hành án, tuy nhiên, cả hai vợ chồng ông bà T và S đều không đến. Sau đó, họ gửi đơn xin tạm dừng thi hành án với nội dung đang gửi đơn lên Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan Trung ương để xem xét giải quyết lại đối với Quyết định giám đốc thẩm số 49/2023/DS-GĐT, đồng thời xin hoãn buổi làm việc vì nhiều lý do khác.
Cuộc gặp gỡ tại căn nhà xập xệ
Không vì đơn xin tạm dừng của vợ chồng ông T và bà S mà chùn bước, đồng chí Thi vẫn tiến hành các bước xác minh tại địa phương theo quy định, đồng thời quyết định phải xuống tận nơi, xác minh trực tiếp tại địa phương và tới nhà của vợ chồng ông T. để làm rõ sự việc.

Hiện ra trước mắt đồng chí Thi là một người đàn ông có gương mặt khắc khổ, nước da nâu đen sạm vì nắng, có vẻ già hơn so với tuổi thực của mình. Sau nhiều lần nghe giải thích về nghĩa vụ thi hành án, ông T không to tiếng, không la lối mà bình thản chậm rãi nói: “Đất này của ba má tui khai hoang từ những năm 80, lúc đó toàn cỏ và đất đá. Ba má tui trồng khoai, trồng sắn để nuôi anh chị em tui. Sau này, ba má già yếu mới giao lại mảnh đất này cho tui quản lý để còn chăm sóc ông bà. Mà vợ chồng anh trai tui lại đi kiện rồi đòi lấy lại mảnh đất này, giờ mất đất vợ chồng tui không biết phải làm sao nữa”.
Những câu nói đó là nỗi niềm của ông T, nó không phải là sự chống đối cũng không phải là sự biện minh mà đó là sự trải lòng của người đàn ông, là trụ cột gia đình đang mang gánh nặng mưu sinh.
Bước ra khỏi mái hiên thấp được ông T mời ngồi tạm làm việc mà đồng chí Thi không khỏi chạnh lòng.
Căn nhà diện tích chưa đến ba chục mét vuông mà có những ba thế hệ, cha mẹ của ông T đều trên 90 tuổi, sức khỏe yếu, hai con trai của ông đang tuổi ăn tuổi lớn. Căn nhà xập xệ, được xây tạm bôi vôi, mái tôn thấp bé nằm lọt thỏm một góc ngay cạnh mảnh đất đang tranh chấp đang là nơi ở của sáu con người.
Nhưng với bản lĩnh của một Chấp hành viên dày dạn kinh nghiệm, từng giải quyết những vụ việc phức tạp khó khăn, đồng chí đã động viên gia đình ông T, bà S nên tự nguyện thi hành án. Vì nếu không, cơ quan thi hành án sẽ tổ chức cưỡng chế, lúc đó gia đình sẽ tốn kém nhiều chi phí, hơn nữa còn ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cha mẹ anh chị, đồng thời đồng chí cũng hứa sẽ giúp họ tìm cách giải quyết vấn đề một cách hòa thuận.
Nghe Chấp hành viên giải thích, vợ chồng ông T, bà S cũng hiểu được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, tuy nhiên họ hứa hẹn sẽ tự nguyện giao đất sau ba tháng nữa.
Sau nhiều lần trao đổi, vận động và phân tích hoàn cảnh thực tế của gia đình ông T, Chấp hành viên đã trực tiếp làm việc với vợ chồng ông N.V.L. Dù là người được thi hành án và đã chờ đợi quyền lợi của mình qua nhiều năm tranh chấp, nhưng trước những khó khăn của gia đình em trai, vợ chồng ông L vẫn đồng ý tạo điều kiện, chấp nhận lùi thời điểm nhận đất thêm 03 tháng để gia đình ông T có thời gian thu hoạch vật nuôi, sắp xếp công việc và ổn định cuộc sống.
Ba tháng chờ đợi và những lá đơn kêu cứu
Tưởng chừng như vụ việc đã tìm được hướng ra êm đẹp. Nhưng không, đến thời gian hẹn giao đất thì tình hình bỗng trở nên căng thẳng. Vợ chồng ông T lại tiếp tục làm đơn kêu cứu lên các cơ quan cấp trên nhằm kéo dài thời gian thi hành án.
Thậm chí, thái độ của họ còn trở nên tiêu cực hơn, vì áp lực tiếc của, vợ chồng ông T thường xuyên lên cơ quan thi hành án lo ó, chửi bới Chấp hành viên nhằm trốn tránh nghĩa vụ của mình, gây khó khăn rất lớn cho việc tổ chức thi hành án.
Bên cạnh đó, bên được thi hành án là vợ chồng ông N.V.L bắt đầu mất kiên nhẫn, họ lại liên tục viết đơn yêu cầu và phản ánh gửi các cơ quan ban ngành về việc Chấp hành viên chậm tổ chức thi hành án, cương quyết đề nghị sớm cưỡng chế để giao trả đất lại cho ông bà.
Đứng giữa sức ép từ cả hai bên đương sự, đồng chí Thi vẫn kiên định tiến hành các bước giải quyết theo quy định, mời các cơ quan chuyên môn đo đạc hiện trạng diện tích đất và lên Kế hoạch cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất. Vì đây là vụ việc mang tính chất nhạy cảm, là vụ cưỡng chế đầu tiên sau khi sáp nhập địa giới hành chính nên việc lên kế hoạch được đồng chí làm rất chặt chẽ, xây dựng nhiều phương án nhằm dự trù nhiều tình huống bất ngờ xảy ra, bởi thông tin cho biết vợ chồng ông N.V.T cương quyết sẽ chống đối quyết liệt để giữ đất.
Ngoài lấy nhu thắng cương, đồng chí Thi còn thực hiện theo câu nói của ông cha xưa “mưa dầm thấm đất”. Một mặt thì vẫn làm việc theo quy định pháp luật, mặt khác đồng chí nhờ tất cả các mối quan hệ tại địa phương cũng như những người có tầm ảnh hưởng đến vợ chồng ông T để động viên, thuyết phục bằng những cuộc gặp gỡ hàng ngày hay thông qua việc trao đổi qua điện thoại.
Đối với Chấp hành Nguyễn Hoàng Trọng Thi chia sẻ: “Thi hành án không phải làm việc trên cái lý mà còn cái tình, lấy thỏa thuận, động viên thuyết phục, lấy công tác dân vận làm cốt lõi để giải quyết vụ việc. Cưỡng chế chỉ là bước cuối cùng khi cả hai bên đương sự không đi đến tiếng nói chung.”
Quyết định bất ngờ sau cuộc gặp gỡ cuối cùng trước ngày cưỡng chế
Sau khi ban hành Kế hoạch cưỡng chế và gửi đến cơ quan Công an phường để phối hợp xây dựng kế hoạch có huy động lực lượng, đồng chí Thi đã hai lần tới nhà ông T và bà S để phân tích quyền và nghĩa vụ. Ông bà vẫn hứa hẹn sẽ giao tài sản nhưng vẫn chây ì, câu kéo thêm thời gian, tuy không căng thẳng như những lần trước nhưng thái độ vẫn là kéo dài.
Trước vài ngày cưỡng chế chính thức diễn ra, đồng chí Thi quyết định đi đến nhà ông T một lần nữa. Lần này đi không phải để tống đạt thêm giấy tờ, không phải thông báo thủ tục mà đơn giản là thử lần cuối cùng. Bước đi mà trong lòng mang tâm trạng lo âu hơn những lần trước, vì đây là lần quyết định việc cưỡng chế có huy động lực lượng, lại sau thời điểm sáp nhập tỉnh nên áp lực rất lớn. Đồng chí vẫn muốn đương sự tự nguyện giao tài sản hơn là phải dùng đến biện pháp mạnh. Vì vậy, thay vì đi vào giờ hành chính, đồng chí lựa chọn một buổi chiều mát để đi, hy vọng thời tiết có thể làm xoa dịu lòng người hơn chăng?
Lần này đồng chí được vợ ông T và ba mẹ ông T mời vào nhà. Bước vào căn nhà nhỏ, đồng chí được dịp quan sát kỹ hơn. Ngoài bộ bàn ghế gỗ đã bị mối mọt ăn thì căn nhà không còn gì giá trị: cái tivi từ những năm 2000 không còn hoạt động, cái bàn thờ ông bà nằm vắt vẻo trên cao, cái giường nằm gọn một góc nhà.
Cụ ông và cụ bà – cha mẹ của ông T đang nằm trên giường gật đầu chào đồng chí Thi. Lần này có dịp thăm hỏi hai cụ cũng như nói chuyện được nhiều hơn, và có lẽ đây chính là nút mở quyết định khi cụ ông thều thào mở lòng:
“Vợ chồng tui cũng đến cái tuổi gần đất xa trời rầu, chuyện đúng sai cũng có cơ quan pháp luật giải quyết. Tụi tui chỉ mong gia đình được yên ổn, cũng mong cán bộ giúp gia đình tui giải quyết cho êm đẹp…”.
Có lẽ sau nhiều tháng trời căng thẳng, chỉ toàn nghe nói chuyện tranh chấp, phân định thiệt hơn thì đây là lần đầu tiên mọi người cùng ngồi lại nói chuyện về sự bình yên của gia đình.

Ngay sau đó, chị S có gọi điện cho chồng vì anh đang đi làm xa không về kịp trước ngày cưỡng chế. Qua trao đổi qua điện thoại, nghe vợ thuật lại, anh T cũng lặng người rồi thống nhất tự nguyện giao lại diện tích đất cho vợ chồng ông N.V.L.
Nghe được lời quyết định ấy, đồng chí Thi thở phào nhẹ nhõm, một gánh nặng như vừa gỡ bỏ. Giữa bao cuộc đấu tranh pháp lý căng thẳng, của những tờ trình, kế hoạch cưỡng chế dày cộm, vụ án lại được giải quyết và kết thúc bằng sự trải lòng, bằng tình thân và tiếng gọi của lương tri.
Kết thúc hồ sơ và trăn trở
Và thế là kế hoạch cưỡng chế đã được thay đổi ngay trước ngày thực hiện. Lần này chỉ có các cơ quan chức năng tại Ủy ban nhân dân cùng cơ quan Kiểm sát phối hợp giao đất mà không cần đến lực lượng công an, không có rào chắn, không có sự giằng co.
Về phía vợ chồng ông N.V.L - những người từng gay gắt yêu cầu cưỡng chế - nay cũng mềm lòng. Họ tự nguyện xin được chi trả toàn bộ phần chi phí đo đạc, cắm mốc thay cho gia đình người em trai N.V.T. Buổi cưỡng chế vì vậy diễn ra trong trật tự trong êm đẹp, không tiếng la ó, không chống đối. Dưới cái nắng đầu mùa xuân, không khí dường như cũng dịu lại, nhẹ đi sự căng thẳng vốn có của vụ việc.
Sau khi hoàn thành buổi cưỡng chế, đồng chí Thi đã trao tặng cho ông bà cụ một phần quà nhằm động viên tinh thần và thể hiện sự tri ân đối với người cao tuổi. Đây là một hành động nhân văn, nét đẹp trong công tác dân vận thể hiện sau khi kết thúc công việc tình người vẫn còn ấm áp.
Vợ chồng ông N.V.T đang lặng lẽ ngồi quan sát hội đồng giao tài sản làm việc
Ông Nguyễn Công Dũng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Hòa Hiệp cũng tâm sự rằng:
“Những tưởng vụ việc sẽ có sự chống đối quyết liệt lắm nhưng nó lại kết thúc trong sự tự nguyện, rất hoan nghênh tinh thần làm việc của cơ quan thi hành án và Chấp hành viên Nguyễn Hoàng Trọng Thi. Rất mong các đồng chí phát huy tinh thần làm việc quyết liệt và công tác dân vận được áp dụng ngày càng hiệu quả”.
Diện tích 1.530m² đất từ nay đã có chủ mới theo đúng phán quyết của Tòa án. Tập hồ sơ dày cộm với bao nhiêu quyết định, văn bản xác minh qua nhiều cấp cuối cùng cũng được khép lại, xếp gọn đưa vào kho lưu trữ. Nhiệm vụ của cơ quan thi hành án, của người Chấp hành viên đến đây là hoàn thành.

Đất đai thì có ranh giới, có thể dùng thước để đo, dùng bản án để phân định rõ ràng ai đúng ai sai. Nhưng tình thân máu mủ, những ký ức tuổi thơ chung một mái nhà, chung một câu hát ru của mẹ thì chẳng có một thứ thước đo nào đong đếm được. Pháp luật có thể buộc người ta trả lại đất, nhưng không có bản án nào có thể buộc người ta phải thương lại một người anh, người em đã từng kiện mình ra tòa. Và đây cũng chính là điều làm cho người làm công tác thi hành án dân sự luôn trăn trở và suy ngẫm sau mỗi hồ sơ được khép lại…