Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 2 lần lùi thời gian vẫn chưa hoàn thành

Diễn đàn kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá 12 ngày 6-11 lại nóng lên bởi tình hình cấp giấy chứng nhận sử dụng đất còn quá nhiều vướng mắc và bất cập, tốc độ chưa đạt yêu cầu. Nhiều vấn đề nảy sinh trong thực tế chưa được giải quyết kịp thời. Vì vậy, cho dù đạt những kết quả nhất định nhưng vẫn có khá nhiều đại biểu Quốc hội bức xúc, có nhiều ý kiến phản ánh khi thảo luận.

Kết quả bước đầu

Báo cáo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nêu rõ: Thực hiện Luật Đất đai năm 2003 và các nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về lĩnh vực nhà đất, Chính phủ, các Bộ và các địa phương ban hành các văn bản, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật để hình thành hệ thống văn bản pháp luật về cấp GCNQSDĐ. Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật có nhiều bước cải cách quan trọng về thẩm quyền và thủ tục cấp GCNQSDĐ, có sự phân cấp khá rõ ràng, thủ tục có nhiều đổi mới, giảm phiền hà. Nhờ vậy, tiến độ cấp GCNQSDĐ được đẩy nhanh trong 2 năm qua.

Theo báo cáo của Chính phủ, đến nay, có 13 tỉnh cấp GCN được hơn 90% diện tích cần cấp đối với các loại đất chính (đất sản xuất nông nghiệp, đất ở nông thôn và đất đô thị), 14 tỉnh đạt 80-90%, 10 tỉnh đạt 70-80%, 27 tỉnh còn lại đạt dưới 70%. Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp cấp được 13,6 triệu giấy, đạt 82%; đất lâm nghiệp đạt 1,1 triệu giấy, bằng 62; đất nuôi trồng thuỷ sản cấp được 642.545 giấy, đạt 68,3%; đất ở đô thị cấp được 2,83 triệu giấy, đạt 62,2%; đất ở tại nông thôn cấp 11,7 triệu giấy, đạt 76,8%; đất chuyên dùng cấp 71.897 giấy, đạt 37,4%; đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng cấp 10.207 giấy, đạt 35,7%...

 

Cái được lớn nhất trong 2 năm qua là Luật Đất đai, Nghị định 181, Nghị định 84 quy định về trình tự cấp GCN có một số điểm đổi mới. Trong đó, đáng kể nhất là thực hiện thủ tục một cửa, đưa vào hoạt động của các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất,trách nhiệm của UBND cấp xã được quy định rõ ràng, cơ quan thuế chịu trách nhiệm xác định nghĩa vụ tài chính… Ngoài ra, còn xử lý được một số tồn tại, vướng mắc do lịch sử để lại như tiêu chí để xác định sử dụng đất ổn định, thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính và việc ghi nợ tiền sử dụng đất, xử lý đối với các trường hợp lấn chiếm, vi phạm quy hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất trái thẩm quyền, chênh lệch diện tích ghi trên giấy tờ với thực tế đang sử dụng…

Nhờ vậy, việc cấp GCN có tác động tích cực đối với công tác quản lý Nhà nước như giải quyết những vấn đề tồn tại trong lịch sử về quản lý sử dụng đất, giải quyết có hiệu quả tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai, góp phần thúc đẩy nhanh và thuận lợi cho công tác giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính… Người sử dụng đất được xác lập và bảo hộ quyền lợi hợp pháp, được tạo điều kiện thuận lợi thực hiện các quyền như chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho, tặng, cho thuê quyền sử dụng đất, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, bảo vệ lợi ích chính đáng của người nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, thừa kế, nhận thế chấp. Đối với xã hội, hệ thống thông tin đất đai được xây dựng từ kết quả cấp GCN sẽ được kết nối với với hệ thống các cơ quan Nhà nước có liên quan, với hệ thống các tổ chức tài chính, tín dụng, được đưa lên mạng thông tin điện tử, tạo thuận lợi cho việc tra cứu và giao dịch bất động sản, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản, tạo điều kiện huy động nguồn vốn đầu tư thông qua hoạt động thế chấp vay vốn…

Nhiều hạn chế cần khắc phục

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng: nhiều văn bản chi tiết quy định và hướng dẫn thi hành luật ban hành rất chậm so với thời điểm Luật Đất đai có hiệu lực, một số quy định tại NĐ 181 gặp nhiều vướng mắc khi thực hiện như thời gian trích đo đất, thời gian UBND cấp xã chuyển tới Văn phòng đăng ký sử dụng đất; còn có quy định chưa phù hợp với truyền thống của người Việt Nam như cha mẹ chuyển quyền sử dụng đất cho con dâu, con rể hoặc ngược lại vẫn phải chịu thuế; khoản thu trước bạ 1% khi chuyển quyền sử dụng đất giữa người thân cho nhau và 1% khi cấp GCNQSDĐ, lệ phí trích đo địa chính, tiền sử dụng đất còn cao so với thu nhập của người dân, đặc biệt đối với các hộ nghèo, dân tộc thiểu số. Chính sách miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thay đổi nhiều dẫn đến khó thực hiện, gây so bì giữa người nộp trước và người nộp sau. Một số vấn đề cần thiết phải quy định nhưng chưa được quy định như cơ chế tài chính cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa ban hành quy định về hạn mức đất ở, đất ở gắn liền với vườn, ao trên cùng một thửa, dẫn tới việc xác định diện tích đất ở không đúng với Luật Đất đai 2003.

Về tiến độ, cho tới nay, đã 2 lần Chính phủ phải lùi thời gian( năm 2005 và 2006) nhưng đến nay vẫn còn 27 tỉnh, thành phố đạt dưới 70% diện tích, nhất là đối với các loại đất chuyên dùng, đất ở đô thị và đất lâm nghiệp. Tình trạng người dân chưa đến nhận GCN diễn ra ở nhiều địa phương như Hà Nội, Bình Dương. Thời gian giải quyết hồ sơ ở một số nơi còn chậm, có nơi cấp giấy kéo dài 4- 5 tháng như Quảng Ninh, có tình trạng chồng chéo giữa việc cấp GCNQSDĐ( bìa đỏ) với giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ( bìa hồng); chất lượng cấp GCN chưa bảo đảm do căn cứ theo kết quả tự khai và theo bản đồ giải thửa đo đạc từ các năm trước đây, còn có một số vi phạm về tiêu chuẩn, diện tích, đối tượng, nguồn gốc, trình tự, thủ tục, thời gian trao trả giấy và các khoản thu về tài chính. 

Trong các nguyên nhân thì chủ yếu vẫn là do việc thực hiện không đúng quy hoạch sử dụng đất từ các giai đoạn trước để lại; cán bộ cấp GCN không ổn định, thường kiêm nhiệm, một số ngại trách nhiệm; việc ghi nợ về tài chính chưa thuận lợi… Ngoài ra, còn có việc nhiều chủ sử dụng đất thiếu hiểt biết, cho rằng không cần có GCN vì đất cha, ông để lại là hợp pháp rồi… 

Với nhiều vướng mắc, bất cập như vậy, Quốc hội yêu cầu trong thời gian tới cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, cụ thể là nghiên cứu sửa đổi Luật Đất đai năm 2003 và Luật Nhà ở để khắc phục những bất cập, chồng chéo, thống nhất cấp 1 loại giấy chứng nhận đối với mọi loại đất, trong đó có cả đất có nhà ở; sửa đổi, hoàn thiện về trình tự, thủ tục kê khai cấp GCN theo hướng đơn giản, rõ ràng, thống nhất, thực sự cải cách thủ tục hành chính, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý đất đai và cơ quan thuế. Một ý kiến khá quan trọng là cần coi việc cấp GCN là để quản lý đất đai, không đặt vấn đề thu tiền vào ngân sách là chính, phải điều chỉnh giảm tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ khi cấp GCN lần đầu, miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất đối với các đối tượng thuộc hộ nghèo tách hộ, có nhu cầu cấp thiết về nhà ở khi chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất thuộc khu dân cư sang làm đất ở; quy định rõ các trường hợp được ghi nợ nghĩa vụ tài chính đất đai, nguyên tắc tính nợ khi thu nợ, thời hạn thu hồi nợ; bổ sung ngân sách bảo đảm cho hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai và kinh phí cho công tác đo đạc, lập hồ sơ địa chính, cấp GCN, đánh giá phân hạng đất, lập và điều chỉnh quy hoạch, thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng thông tin đất đai, đặc biệt đối với các tỉnh nghèo, có khó khăn về ngân sách. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội ra nghị quyết, quyết nghị hoàn thành cơ bản việc cấp GCNQSDĐ trong năm 2008.

Hồng Thanh