Cào hến trên sông Cu Đê

Hến sông Cu Đê từ lâu đã trở thành nỗi nhớ của nhiều người dân Liên Chiểu xa quê, là món ngon ít khi thiếu vắng trong bữa cơm đãi khách của người dân vùng này. Hẳn chưa nhiều người biết rằng, để làm nên món ngon dân dã ấy, người dân phải vất vả sớm hôm giữa sông sâu nước biếc trên bến sông quê.

Hến sông Cu Đê từ lâu đã trở thành nỗi nhớ của nhiều người dân Liên Chiểu xa quê, là món ngon ít khi thiếu vắng trong bữa cơm đãi khách của người dân vùng này. Hẳn chưa nhiều người biết rằng, để làm nên món ngon dân dã ấy, người dân phải vất vả sớm hôm giữa sông sâu nước biếc trên bến sông quê.

Cào hến trên sông Cu Đê

Người dân cào hến đoạn thượng nguồn cầu Sụp, trên dòng Cu Đê

Nửa đêm. Bến thuyền làng Bến Hến thuộc 2 phường Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Nam (Liên Chiểu) trở giấc bước vào một ngày làm việc nặng nhọc. Tiếng lóc xóc đãi hến trong các bếp lò trên bến. Ánh điện hắt ra từ một ngôi nhà in bóng gốc đa cổ thụ lên mặt nước sông Cu Đê sáng loang lổ. Loang loáng ánh đèn pin dò đường, lạo xạo những bước chân giẫm lên từng đống vỏ hến sắp lớp dọc theo lối đi.

Ôm chặt túi đồ nghề lỉnh kỉnh, tôi dò dẫm lần theo bước chân vợ chồng chị Đặng Thị Thoa và anh Lê Kim Thu xuống thuyền “đi hến”. “Cào hến là nghề ngày xưa xếp vào hàng “tứ bần” nhưng là nghề trong sạch. Mở mắt ra là đã thấy cực nhưng hết đời cụ kị qua đời ông cha, nay lại đến đời tui vẫn cứ trôi dạt nơi bến sông ni”, anh Thu mở đầu câu chuyện.

Con thuyền dò dẫm trong bóng đêm xuôi dòng về phía thượng lưu cầu Sụp, cách làng hến non chục cây số. Thuyền của chúng tôi đến điểm tập kết khi màn đêm còn bao phủ mặt sông, đã có ba, bốn chiếc thuyền thi nhau quần thảo ở bãi hến. “Thượng lưu cầu Sụp sông Cu Đê là điểm góp nước chảy về biển Đông.

Hến chỉ sống từ đây ngược về mạn thượng nguồn, còn qua nơi đây xuống đến biển chỉ có con giắt - một loài nhuyễn thể có họ hàng với hến nhưng vỏ mỏng hơn, thân lép hơn và thịt không được bùi bằng hến”, anh Thu vừa nói vừa vung tay buông chiếc vợt cào hến xuống mặt sông. Anh khéo léo điều khiển chiếc ròng rọc ở phía mũi thuyền để tăng giảm tốc độ và chỉnh hướng đi của con thuyền bằng hai sợi dây dù nối vào dây ga và bánh lái.

Quần thảo được mấy vòng, đột nhiên chiếc thuyền chao đảo làm tôi suýt đâm nhào xuống nước. “Vợt cào bị vướng ngại vật”, anh Thu cho thuyền dừng lại rồi cố hết sức kéo chiếc vợt ken dày bùn đất lên sát mặt nước. Đôi tay trần vạm vỡ của anh đảo qua đảo lại mấy lần cho hết bùn rồi kéo chiếc vợt lên đổ vào lòng thuyền một đống lạo xạo hến lẫn vô số thứ tạp nham vớt được dưới đáy sông. Chị Thoa soi chiếc đèn pin nhặt nhạnh những con tôm, con cá lẫn giữa đống hến cho vào một khoang thuyền bên cạnh.

Cào hến trên sông Cu Đê
Hến được bày bán ở chợ Nam Ô
Anh Thu bảo, khoản tôm, cá dính vào vợt hằng ngày đủ cung cấp thực phẩm cho mấy gia đình. Đã có lần anh bắt được chú cá chép mấy cân mang đổi được nửa xách dầu chạy máy. Chị Thoa cho biết, trước đây người dân làng hến còn vất vả hơn nhiều, chèo thuyền, lấy hến phải ngụp xuống nước, dù ngày nắng cũng như ngày mưa giá rét nên dân làng gọi nghề cào hến là nghề “bán xương nuôi thịt”. Đã có không ít người theo nghề sinh bệnh, nhất là các bệnh về xương khớp.

Nay có thuyền máy nhưng công việc cào hến đâu đã hết vất vả. Những con thuyền khai thác cát làm xói lở dòng chảy tạo nên những hố sụt, xoáy, trở thành những cạm bẫy dưới đáy sông. Thuyền máy, bộ khung sắt lưới cào là “cần câu cơm” của người dân làng hến nhưng số phận lại hết sức mong manh giữa nước biếc sông sâu.

Mặt trời đã nhô lên khỏi chân trời. Những mẻ lưới đã bắt đầu nặng nề hơn, lòng thuyền cũng đầy dần những hến. Anh Thu giũ kỹ tấm lưới, xếp gọn vào lòng thuyền rồi quay mũi thuyền về hướng ngược dòng. Thuyền về đến bến sông khi mặt trời sắp đứng bóng. Cả bến xôn xao đón đoàn thuyền “đi hến” trở về. Những người phụ nữ chân quê lúp xúp trong các lò hến, tất bật nhóm lửa chuẩn bị hàng cho phiên chợ chiều.

Vợ chồng anh Thu khệ nệ bê từng rổ hến lên bờ. “Được hơn 5 rổ”, chị Thoa nói với anh Thu. Tôi nhẩm tính giá bán mỗi rổ hến tươi (khoảng 30 kg) tại bến là 150 nghìn đồng, trừ các khoản chi phí, hôm nay vợ chồng anh Thu kiếm được khoảng 250 nghìn đồng. Anh Thu cho biết, nghề cào hến không chỉ nuôi sống dân làng Bến Hến, mà còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người dân buôn bán nhỏ của các làng lân cận.

Sức nóng tỏa ra từ các bếp lò cộng với ánh nắng mặt trời làm cho khuôn mặt các cô, các bà ửng đỏ, mồ hôi chảy thành dòng ướt đẫm vạt áo. Anh Thu đảo đều chảo hến rồi quay sang nói với tôi: “Luộc hến không cần đổ nước, tự nước con hến tiết ra là đủ. Đun sôi “ba trào”, ruột hến sẽ tự lóc ra, săn đều. Khi đưa xuống sông đãi, ruột dễ dàng tách ra khỏi vỏ và không bị bám bùn, cát”. …Từ bến sông này, biết bao thế hệ dù vất vả, thức khuya dậy sớm nhưng vẫn chung thủy với nghề cào hến, đem vào những bữa ăn món hến đậm đà hương quê.

Bài và ảnh: NGỌC HUYỀN