Cần tôn trọng quyền tự quyết của người dân trong nuôi con nuôi

 Điều khoản chuyển tiếp (Điều 50) của Luật Nuôi con nuôi (NCN) cho phép đăng ký trong thời hạn 5 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực đối với các trường hợp NCN giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trước ngày 1/1/2011. Tuy nhiên, việc đăng ký NCN thực tế lại rất cần được xuất phát từ sự tự nguyện của người dân.

Điều khoản chuyển tiếp (Điều 50) của Luật Nuôi con nuôi (NCN) cho phép đăng ký trong thời hạn 5 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực đối với các trường hợp NCN giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trước ngày 1/1/2011. Tuy nhiên, việc đăng ký NCN thực tế lại rất cần được xuất phát từ sự tự nguyện của người dân.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Quy trình đơn giản

Các nghị định của Chính phủ về đăng ký hộ tịch đều quy định việc NCN phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Song do nhiều nguyên nhân khác nhau nên thực tiễn vẫn còn tồn tại nhiều việc NCN giữa công dân Việt Nam với nhau chưa được đăng ký. Vì vậy, việc cho phép đăng ký đối với trường hợp NCN trên đây là nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ NCN, nhất là quyền lợi của trẻ em.

Để được đăng ký, việc NCN này phải thỏa mãn các điều kiện như các bên có đủ điều kiện về NCN theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ NCN; quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con. Sau khi được đăng ký, quan hệ NCN sẽ có giá trị pháp lý kể từ thời điểm phát sinh quan hệ NCN.

Nghị định số 19/2011/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật NCN đã đưa ra một quy trình khá đơn giản, có tính khả thi cao để làm cơ sở cho việc đăng ký NCN thực tế. Thậm chí, theo khoản 2 Điều 23, việc công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới nhận trẻ em của nước láng giềng làm con nuôi mà chưa đăng ký trước ngày 1/1/2011 thì cũng được đăng ký giống trường hợp NCN thực tế giữa công dân Việt Nam với nhau.

Phải tránh “rùm beng”

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là cách thức tổ chức thực hiện việc đăng ký NCN thực tế như thế nào cho hiệu quả, tránh hình thức. Liệu có nhất thiết phải tổ chức đăng ký NCN thực tế một cách rầm rộ và triển khai rộng khắp, giống như triển khai đăng ký hôn nhân thực tế theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 hay không?

Rất nhiều ý kiến cho rằng, cần hết sức thận trọng khi tuyên truyền về việc đăng ký, bởi kết hôn và NCN là hai nội dung khác nhau, NCN có những điểm nhạy cảm và đặc thù riêng của nó. Trên thực tế, có người nhận NCN nhưng lại muốn giữ bí mật việc NCN nên họ không muốn cho con cháu, họ hàng biết sự thật, có một số trường hợp còn “sống để bụng, chết mang theo”.

Do đó, trong đăng ký NCN thực tế, khó có thể bắt buộc người dân đi đăng ký nếu thực sự họ không muốn tiết lộ bí mật việc nhận con nuôi mà hãy tôn trọng quyền tự quyết, tôn trọng ý chí và nguyện vọng của người dân. Có lẽ cũng bởi thế, Điều 24 và Điều 25 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP chỉ quy định một số thủ tục pháp lý đơn giản, thuận lợi để UBND cấp xã có cơ sở tiến hành đăng ký việc NCN khi người dân có yêu cầu.

Cụ thể, người nhận con nuôi phải làm Tờ khai đăng ký (kèm theo một số giấy tờ) và nộp cho UBND cấp xã tại nơi thường trú. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, UBND cấp xã cử công chức Tư pháp – hộ tịch phối hợp với Công an xã tiến hành kiểm tra và xác minh, nếu đủ các điều kiện thì UBND cấp xã đăng ký việc NCN. Khi đăng ký, cả người nhận và người được nhận làm con nuôi đều phải có mặt. Công chức Tư pháp – hộ tích ghi vào Sổ đăng ký NCN và trao Giấy chứng nhận NCN cho các bên.

Uyên San