Cần thiết phải sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Xử lý vi phạm hành chính

Cần thiết phải sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Xử lý vi phạm hành chính
Một buổi tập huấn nghiệp vụ về công tác xử lý vi phạm hành chính do Bộ Tư pháp tổ chức. (Ảnh: PLVN)

Sau 13 năm triển khai thi hành, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã nhận diện rõ những hạn chế, bất cập; cùng với tình hình vi phạm hành chính, sự phát triển của kinh tế - xã hội hiện nay đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Ngày 8/9/2026, Chính phủ có Tờ trình số 665/TTr-CP trình Quốc hội về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi). Dự án Luật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các vị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cho ý kiến. Trên cơ sở ý kiến của các cơ quan, đại biểu nêu trên, Chính phủ đã tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự án Luật và có Tờ trình số 879/TTr-CP ngày 10/10/2026 trình Quốc hội về dự án Luật.

Dự thảo Luật hiện tại đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng, trong đó có một số nội dung được đại biểu Quốc hội quan tâm, còn ý kiến khác nhau. Cụ thể, về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, có ý kiến đề nghị cân nhắc việc nâng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (từ 1 năm đến 2 năm theo Luật hiện hành lên 1 đến 3 năm để bảo đảm phù hợp với nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính đã được quy định tại khoản 1 Điều 3 của dự thảo Luật là “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời” và “Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng”. Việc nâng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính tuy sẽ tạo điều kiện để các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thêm thời gian để phát hiện và xử lý triệt để các hành vi vi phạm hành chính nhưng cần được tiếp tục rà soát, có sự phân hóa cụ thể đối với những lĩnh vực được phép kéo dài thời hiệu xử phạt để bảo đảm việc ngăn chặn kịp thời, hạn chế thấp nhất việc gây hậu cho người dân, xã hội.

Cơ quan soạn thảo giải trình, dự thảo Luật đã nâng thời hiệu xử phạt tối đa từ 2 năm lên 3 năm, đồng thời nâng thời hiệu xử phạt lên 2 năm hoặc 3 năm đối với một số lĩnh vực nhằm bảo đảm nguyên tắc mọi vi phạm hành chính phải bị xử lý nghiêm minh; đồng thời nâng cao tính răn đe, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm pháp luật và ý thức tự giác chấp hành pháp luật của các cá nhân, tổ chức. Bên cạnh đó, việc nâng thời hiệu chỉ áp dụng đối với một số lĩnh vực xảy ra nhiều hành vi phạm phức tạp, tác động lớn đến trật tự xã hội, cần nhiều thời gian để xác minh, phân tích kiểm định, giám định như: an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; bảo vệ môi trường; khoáng sản.

Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan rà soát, đánh giá kỹ lưỡng để đề xuất thời hiệu xử phạt phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.

Về mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính, có ý kiến khác cho rằng, việc nâng mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, từ 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức là khá cao (tăng 1,5 lần). Nếu mức phạt tiền quá cao, vượt quá khả năng tài chính thực tế của đa số cá nhân và nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể dẫn đến tình trạng trốn tránh việc thực hiện, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của việc xử phạt nói riêng và thi hành pháp luật nói chung. Đồng thời, việc tăng mức phạt lên quá cao so với tốc độ tăng trưởng thu nhập hay khả năng chi trả của người dân, doanh nghiệp, có thể ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức và đời sống của người dân, dễ tạo ra những ý kiến, quan điểm trái chiều nên cần được tính toán, đánh giá tác động kỹ lưỡng về nhiều mặt.

Bên cạnh phương án tăng mức phạt tiền thì cần xem xét giải pháp áp dụng triệt để các biện pháp khắc phục hậu quả (như buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc phá dỡ công trình không đúng quy định, buộc nộp lại số lợi bất chính có được do thực hiện vi phạm…) và hình thức phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hoạt động…).

Cơ quan soạn thảo giải trình, dự thảo Luật đã nâng mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, từ 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức; đồng thời nâng mức phạt tiền tối đa đối với một số lĩnh vực. Việc nâng mức phạt tiền để phù hợp với mức tăng lương cơ sở, thu nhập bình quân đầu người, sự phát triển của kinh tế - xã hội, bảo đảm tính răn đe, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm trong các lĩnh vực như: bảo vệ môi trường; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; khám bệnh, chữa bệnh. Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan rà soát, đánh giá kỹ lưỡng để đề xuất mức phạt tiền tối đa phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.

Quá trình xây dựng các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực, Chính phủ sẽ rà soát, nghiên cứu kỹ lưỡng để áp dụng các hình thức xử phạt khác (như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính) và các biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp với tính chất, mức độ của từng hành vi vi phạm và tình hình thực tiễn chứ không chỉ áp dụng hình phạt tiền.

Về việc bổ sung biện pháp cưỡng chế “tạm hoãn xuất cảnh”, “ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước”, “ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số”, có ý kiến cho rằng, các biện pháp này sẽ tác động lớn đến quyền con người, quyền công dân. Do đó, việc bổ sung các biện pháp này cần được cân nhắc kỹ lưỡng, thận trọng và quy định chặt chẽ về nguyên tắc, điều kiện áp dụng ngay tại dự thảo Luật.

Cơ quan soạn thảo làm rõ, việc bổ sung các biện pháp cưỡng chế “tạm hoãn xuất cảnh”, “ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước”, “ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số” đã được cơ quan soạn thảo nghiên cứu, rà soát, đánh giá kỹ lưỡng để bảo đảm việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thi hành hiệu quả. Trên thực tế, không ít trường hợp cá nhân vi phạm hoặc người đại diện, người đứng đầu tổ chức lợi dụng việc xuất cảnh để trì hoãn, né tránh nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt. Đồng thời, nhiều cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tiếp tục các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để thu lợi.

Riêng đối với biện pháp “ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số”, hiện nay, hoạt động vi phạm trên môi trường số, đặc biệt là thương mại điện tử xuyên biên giới, ngày càng phổ biến và có nhiều trường hợp đối tượng vi phạm là tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ qua Internet nhưng không có trụ sở, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam. Đối với các trường hợp này, nhiều biện pháp xử phạt truyền thống như tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hoạt động hoặc các biện pháp cưỡng chế gắn với hiện diện vật lý trên thực tế rất khó hoặc không thể thực hiện được. Vì vậy, cần bổ sung cơ sở pháp lý chung về các biện pháp ngăn chặn, xử lý và cưỡng chế trên môi trường số để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và khả năng thực thi pháp luật đối với các hành vi vi phạm trên không gian mạng.

Do đó, cần thiết phải bổ sung 3 biện pháp cưỡng chế này để bảo đảm việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đồng thời, qua rà soát các quy định pháp luật, cơ quan soạn thảo thấy rằng hiện nay, một số văn bản quy phạm pháp luật đã có quy định về các biện pháp này. Chẳng hạn, biện pháp “ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước” được quy định tại khoản 2 Điều 33 Luật Thủ đô năm 2024; khoản 2 Điều 32 Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở.

Biện pháp “tạm hoãn xuất cảnh” được quy định tại khoản 6 Điều 36 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 (được sửa đổi, bổ sung năm 2023). Biện pháp “ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15.

Vì vậy, việc bổ sung các biện pháp cưỡng chế nêu trên là bảo đảm phù hợp, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Dự thảo Luật đã quy định chặt chẽ về nguyên tắc, điều kiện áp dụng các biện pháp này, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, không làm ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức không liên quan đến hành vi vi phạm, phù hợp với thực tiễn.

Về việc xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản đối với trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ, có ý kiến cho rằng, biên bản vi phạm hành chính không chỉ có ý nghĩa ghi nhận hành vi vi phạm mà còn là căn cứ để ghi nhận ý kiến của người vi phạm, việc giải thích quyền, nghĩa vụ của họ, đặc biệt là quyền giải trình, cũng như các tình tiết khác của vụ việc. Do đó, việc không lập biên bản trong mọi trường hợp phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ có thể ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức vi phạm. Việc quy định tất cả các trường hợp được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ đều không phải lập biên bản vi phạm hành chính có thể dẫn đến việc thủ tục xử phạt không lập biên bản được áp dụng một cách dàn trải, không phân biệt tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc, làm gia tăng nguy cơ tùy nghi trong quá trình áp dụng pháp luật và ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức vi phạm.

Cơ quan soạn thảo làm rõ, hiện nay, các hành vi vi phạm hành chính được phát hiện qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (như cân kiểm tra tải trọng xe cơ giới; phương tiện đo nồng độ cồn trong hơi thở; hệ thống camera giám sát an ninh, trật tự, điều hành giao thông…) đã có đầy đủ căn cứ, dữ liệu để ra quyết định xử phạt.

Cụ thể, kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được ghi nhận bằng văn bản, gồm các thông tin cơ bản sau: tên cơ quan, đơn vị và chữ ký, họ tên của người sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm (trường hợp xác minh được); bản ảnh, hình ảnh (đối với thiết bị ghi hình, phương tiện đo tốc độ phương tiện giao thông có ghi hình ảnh); âm thanh (đối với thiết bị ghi âm); chỉ số đo, phân tích (đối với phương tiện, thiết bị có chức năng đo lường, phân tích, kiểm định); thời gian, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm hoặc kết luận về kết quả đo lường, phân tích, kiểm định; các thông tin khác liên quan đến hành vi vi phạm (nếu có). Các thông tin nêu trên đã tương ứng với các thông tin quan trọng trong biên bản vi phạm hành chính.

Khi có kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, người có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ việc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và thực hiện theo các bước sau: xác định thông tin về tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính; gửi thông báo bằng văn bản yêu cầu cá nhân, tổ chức vi phạm đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền để giải quyết vụ việc, trừ trường hợp người có thẩm quyền đã xác định được cá nhân, tổ chức vi phạm và cá nhân, tổ chức có liên quan (nếu có) tại địa điểm, tuyến, địa bàn xảy ra hành vi vi phạm; ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tổ chức thi hành quyết định xử phạt theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 44 dự thảo Luật quy định “Trường hợp chưa đủ căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc thuộc trường hợp giải trình, thì người có thẩm quyền không phải lập biên bản vi phạm hành chính nhưng phải thực hiện thủ tục quy định tại các điều 47, 48, 49 và 50 của Luật này”. Trong trường hợp phải thực hiện các thủ tục quy định tại các điều 47 (xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính), 48 (thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử), 49 (xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính) và 50 (giải trình) của dự thảo Luật, người có thẩm quyền phải lập các văn bản, tài liệu thể hiện quá trình và kết quả thực hiện các thủ tục này, do đó sẽ đảm bảo ghi nhận khách quan, chính xác, đầy đủ quá trình, kết quả xác minh tình tiết, thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giải trình để làm căn cứ ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Như vậy, trường hợp này không cần thiết phải lập biên bản vi phạm hành chính để rút ngắn quy trình, thời gian xử phạt mà vẫn bảo đảm tính chính xác, khách quan. Việc phải lập biên bản vi phạm hành chính trong các trường hợp này làm tăng thủ tục xử phạt không cần thiết, kéo dài thời gian xử lý, phát sinh chi phí và chưa phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước...

H.Tuyển