Cần quy định rõ ranh giới pháp lý để hòa giải viên “đúng vai, đúng việc”
Ngày 16/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc đã chủ trì Hội thảo Góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hoà giải ở cơ sở.
Hoàn thiện cơ chế để hòa giải ở cơ sở thuận lợi, khả thi
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc nhấn mạnh, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 được ban hành nhằm khắc phục những hạn chế của Luật năm 2013 và đưa ra các giải pháp thúc đẩy công tác hòa giải trong bối cảnh mới hướng tới xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật. Theo Thứ trưởng, để những quy định tiến bộ của Luật sớm đi vào cuộc sống, việc ban hành Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp thiết.
Theo đó, yêu cầu đặt ra đối với Nghị định là phải bám sát Luật, quy định cụ thể, rõ ràng, khả thi, dễ thực hiện, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở, đồng thời tránh hành chính hóa quá mức hoạt động hòa giải ở cơ sở - vốn là hình thức tự quản, tự nguyện của cộng đồng dân cư.

Qua đó, Thứ trưởng đề nghị các đại biểu tham dự đưa ra các ý kiến đóng góp thiết thực để giúp tổ chức thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở thuận lợi nhất, phát huy tối đa vai trò của hòa giải viên, tổ hòa giải trong giải quyết tranh chấp tại cộng đồng dân cư, góp phần xây dựng xã hội đoàn kết, hài hòa, văn minh, phát triển. Đồng thời trao đổi, thảo luận đối với những nội dung của dự thảo Nghị định, những vấn đề cần được tháo gỡ vướng mắc từ thực tiễn, đặc biệt là phạm vi hòa giải ở cơ sở.
Báo cáo tóm tắt dự thảo Nghị định, bà Ngô Quỳnh Hoa, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý (PBGDPL&TGPL) cho biết, dự thảo Nghị định được kết cấu gồm 06 chương, 35 điều (tăng 15 điều so với Nghị định số 15/2014/NĐ-CP). Dự thảo tập trung cụ thể hóa nhiều nội dung quan trọng của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, trong đó tiếp tục đề cao nguyên tắc tự nguyện của các bên; hoàn thiện các quy định về bầu, công nhận Tổ trưởng tổ hoà giải, thôi làm hòa giải viên, Tổ trưởng tổ hoà giải; bổ sung quy định về người được mời tham gia hòa giải và người phiên dịch; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; bảo đảm kinh phí và làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở…
Đáng chú ý, quy định về người được mời tham gia hòa giải là nội dung mới so với pháp luật hiện hành. Do đó, dự thảo cần xác định rõ phạm vi, trình tự, thủ tục mời, sự thỏa thuận của các bên cũng như trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc cử người tham gia quá trình hòa giải.
Một điểm mới khác là yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Nếu trước đây hoạt động hòa giải chủ yếu được thực hiện theo phương thức truyền thống thì dự thảo lần này đặt vấn đề ứng dụng công nghệ trong nhiều khâu, từ bầu hòa giải viên đến tổ chức hòa giải, kể cả khả năng thực hiện hòa giải trực tuyến. Đi cùng với đó phải có các quy định phù hợp nhằm bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và quyền riêng tư của các bên tham gia.

Theo bà Hoa, một trong những nội dung cần được tập trung thảo luận, làm rõ là phạm vi hòa giải ở cơ sở. Đây là vấn đề có tính chất nền tảng, bởi hòa giải viên không phải thẩm phán hay luật sư và phần lớn không được đào tạo chuyên sâu về pháp luật. Hoạt động hòa giải dựa trên sự kết hợp giữa quy định pháp luật với các yếu tố văn hóa, đạo đức, tình và lý. Vì vậy, quy định phải đủ rõ để hòa giải viên có thể nhận diện được vụ việc nào thuộc phạm vi hòa giải, vụ việc nào phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Bà Ngô Quỳnh Hoa nhấn mạnh, mục tiêu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện dự thảo Nghị định theo hướng rõ phạm vi, rõ trách nhiệm, bảo đảm nguồn lực và thuận lợi trong tổ chức thực hiện, qua đó tạo cơ sở để các quy định mới về hòa giải ở cơ sở thực sự đi vào cuộc sống, đồng thời giảm tối đa những thủ tục không cần thiết đối với đội ngũ hòa giải viên.
Phân định rõ phạm vi hoà giải ở cơ sở
Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS Trương Hồ Hải, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội khóa XVI nêu ý kiến về tính khả thi của các quy định về chuyển đổi số. Luật đã đặt ra nhiều yêu cầu mới như hòa giải trực tuyến, biên bản hòa giải điện tử. Tuy nhiên, khi cụ thể hóa tại Nghị định, cần rà soát kỹ trình tự, thủ tục và điều kiện thực hiện tại thôn, tổ dân phố, khu dân cư, bảo đảm quy định vừa tuân thủ pháp luật, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở cơ sở.

Đối với phạm vi hòa giải ở cơ sở, PGS.TS Trương Hồ Hải cho rằng đây là vấn đề cần được xác định rõ, bởi nếu ranh giới và thẩm quyền không cụ thể thì chính quá trình thực hiện hòa giải có thể phát sinh những vướng mắc mới.
Liên quan đến Điều 3 của dự thảo Nghị định, ông đề nghị nghiên cứu quy định theo phương pháp loại trừ, làm rõ những trường hợp không được hòa giải hoặc không thuộc phạm vi hòa giải. Nếu liệt kê tất cả những trường hợp được hòa giải, quy định có nguy cơ bỏ sót bởi các quan hệ dân sự trong đời sống rất đa dạng, thường xuyên vận động và phát sinh những tình huống mới. Việc hướng dẫn cũng cần tập trung vào các tiêu chí nhận biết, hạn chế lặp lại quy định của Luật; đối với những nội dung đã được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh có thể nghiên cứu sử dụng kỹ thuật dẫn chiếu phù hợp.
Từ thực tiễn công tác tại địa bàn, ông Nghiêm Xuân Giang, đại diện Công an phường Ba Đình cho rằng, vai trò của hòa giải viên cần được đặt ở khâu phát hiện sớm, tiếp cận sớm và giải quyết mâu thuẫn ngay từ cơ sở. Khi tiếp nhận vụ việc, hòa giải viên phải có khả năng nhận diện tính chất, mức độ của mâu thuẫn; trường hợp còn thuộc phạm vi hòa giải thì chủ động vận động, thuyết phục, phân tích quy định pháp luật để các bên tìm được tiếng nói chung. Ngược lại, khi vụ việc đã vượt khỏi phạm vi hòa giải thì phải kịp thời thông tin, chuyển đến cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Theo ông Nghiêm Xuân Giang, các quy định của Nghị định cần được thiết kế rõ ràng, cụ thể và dễ nhận biết, để hòa giải viên có thể xác định được giới hạn trách nhiệm của mình. Việc phân định rõ ranh giới này vừa giúp hòa giải viên tránh can thiệp vào những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan chức năng, vừa tạo điều kiện để hòa giải phát huy hiệu quả đối với những mâu thuẫn có khả năng giải quyết ngay tại cộng đồng.
Kết luận Hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc cho rằng, việc quy định phạm vi hòa giải cần bảo đảm để hòa giải viên có thể nhận diện tương đối rõ những vụ việc thuộc phạm vi hòa giải, nhưng không nên thiết kế theo hướng quá cứng nhắc, phức tạp, làm thu hẹp không gian hoạt động của hòa giải ở cơ sở. Thứ trưởng đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục cân nhắc kỹ giữa phương án quy định theo hướng loại trừ và phương án cụ thể hóa nhằm giúp hòa giải viên thuận lợi hơn trong nhận diện phạm vi hòa giải, hạn chế bỏ sót những mâu thuẫn, tranh chấp có thể được giải quyết ngay từ cơ sở.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc, một trong những vấn đề cần được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng hòa giải là tạo thêm cơ chế hỗ trợ để hòa giải viên có đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ. Theo đó, cần nghiên cứu quyền đề xuất người tham gia, hỗ trợ hòa giải; quyền đề nghị, trao đổi, kiến nghị với cơ quan có chức năng, chuyên môn đối với những vấn đề phát sinh trong quá trình hòa giải.
Cùng với đó, cần tiếp tục nghiên cứu các cơ chế bảo đảm, bảo vệ hòa giải viên trong trường hợp phát sinh vấn đề trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; chế độ đối với trường hợp xảy ra sự cố, tai nạn khi tham gia hòa giải; đồng thời bảo đảm đầy đủ chế độ, thù lao theo quy định, tạo sự yên tâm và động lực để hòa giải viên gắn bó với công việc.
Trên tinh thần tiếp thu tối đa các ý kiến tại Hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng, hoàn thiện các quy định theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hòa giải viên, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.