Cần điều chỉnh sát thực tế phát triển nông nghiệp, thuỷ sản
Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp làm nền tảng vững chắc khắc phục khủng hoảng, thúc đẩy kinh tế phát triển đang là một trong những hướng đi phù hợp và được thành phố đặc biệt quan tâm trong thời điểm hiện nay.
Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp làm nền tảng vững chắc khắc phục khủng hoảng, thúc đẩy kinh tế phát triển đang là một trong những hướng đi phù hợp và được thành phố đặc biệt quan tâm trong thời điểm hiện nay. Cuối năm 2010, HĐND thành phố ban hành Nghị quyết số 14 về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thuỷ sản thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011- 2015, với nhiều chính sách hỗ trợ mới so với Nghị quyết 10 trước đó. Tuy nhiên, không ít địa phương cho rằng cần nhìn lại, khắc phục những vướng mắc trong thực hiện Nghị quyết 10 để có sự triển khai nghị quyết 14 hợp lý, sát thực tế hơn.
Phối hợp chậm và lúng túng
Việc triển khai Nghị quyết 10 về các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy sản trên thực tế quá chậm, sự phối hợp giữa các ngành và các địa phương rất lúng túng. Nghị quyết HĐND thành phố ban hành tháng 10- 2007 nhưng phải đến tháng 9-2008, UBND thành phố mới có quyết định số 1465 về quy chế thực hiện chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủy sản giai đoạn 2008- 2010. Và cũng phải đến tháng 3-2009, các Sở Nông nghiệp- PTNT, Tài chính và Kế hoạch-Đầu tư mới có hướng dẫn số 36 hướng dẫn cụ thể thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ theo nghị quyết HĐND thành phố. Đến giữa năm 2010, khi sắp kết thúc thực hiện nghị quyết, 3 Sở Tài chính, Nông nghiệp và Kế hoạch- Đầu tư chưa thống nhất được bộ hồ sơ mẫu về đề nghị hỗ trợ kinh phí theo nghị quyết xuống các địa phương khiến cấp cơ sở lúng túng vì mỗi đơn vị hướng dẫn một kiểu…
Bà Nguyễn Thị Liên, Trưởng Phòng Nông nghiệp- PTNT huyện An Lão cho rằng, chính vì chưa có bộ hồ sơ mẫu nên nhiều thủ tục không hợp lý, chồng chéo khiến người dân khó thực hiện. Theo hướng dẫn số 36 của liên Sở Tài chính, Nông nghiệp- PTNT và Kế hoạch-Đầu tư, hồ sơ để được nhận hỗ trợ kinh phí của một trang trại chăn nuôi gồm 7 loại giấy tờ. Trong đó, có những yêu cầu người dân rất khó thực hiện như phải có trích lục bản đồ thửa đất, làm bản cam kết môi trường…Hay như việc làm hồ sơ hỗ trợ xây dựng vùng sản xuất tập trung cũng vậy. Để được hỗ trợ kinh phí 1 lần cải tạo hạ tầng sản xuất phải lập kế hoạch cụ thể như: hiện trạng nơi xây dựng vùng sản xuất tập trung; nêu rõ phương án tổ chức lại nông hộ, dồn điển đổi thửa…; phương án chuyển đổi sang đối tượng cây trồng, con vật nuôi, sơ đồ thiết kế mỹ thuật mặt bằng sau khi chuyển đổi; kỹ thuật, công nghệ sản xuất và phương án đầu ra của sản phẩm…và đối với khu vực chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi thủy sản cần đánh giá tác động môi trường và phương pháp xử lý bảo đảm vệ sinh môi trường. Đối với các xã và người nông dân trình độ có hạn thì những thủ tục, hồ sơ như trên không dễ dàng.
Cùng với đó, kinh phí bố trí triển khai thực hiện nghị quyết còn thấp. Tổng kinh phí hỗ trợ trong 3 năm là 353.750 triệu đồng, mới đạt 69,4% so với yêu cầu. Trong đó, vốn chủ yếu bố trí cho nội dung hỗ trợ xây dựng vùng sản xuất tập trung là 33 tỷ đồng, bình quân mỗi năm là 12 tỷ đồng, trong khi yêu cầu thực tế mỗi năm là 50 tỷ đồng. Các nội dung hỗ trợ khác phải sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp hằng năm của ngành nên tiến độ chậm, không đạt kế hoạch. Một số nội dung trong nghị quyết các ngành chưa có hướng dẫn cụ thể về cơ chế tổ chức thực hiện như: cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp về đất đai, giải phóng mặt bằng, vay vốn đầu tư vào lĩnh vực bảo quản, chế biến và tiêu thụ nông sản; cơ chế hỗ trợ xây dựng các chợ đầu mối tiêu thụ nông sản; cơ chế hỗ trợ đào tạo cho thuyền trưởng, máy trưởng tàu khai thác thủy sản…Ngoài ra, một số khu vực đặc biệt khó khăn như sản xuất muối lại chưa hề có chính sách hỗ trợ…
Tại Nghị quyết 14 về hỗ trợ nông nghiệp, thủy sản giai đoạn 2011- 2015, ngoài thực hiện tiếp các nội dung có trong nghị quyết 10, còn thêm 4 cơ chế hỗ trợ mới. Như vậy, có rất nhiều việc phải làm. Nếu không khắc phục việc chậm và lúng túng trong bố trí vốn, sự phối hợp giữa các ngành, địa phương như thực tế thực hiện Nghị quyết 10 thì nghị quyết rất khó đi vào cuộc sống.
Quy mô sản xuất, mức hỗ trợ chưa phù hợp

Sản xuất muối gặp nhiều khó khăn, nhưng người sản xuất chưa được hưởng chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết 10.
Theo nhiều địa phương, một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình thực hiện nghị quyết là quy mô sản xuất được hỗ trợ, mức và đối tượng được hỗ trợ chưa phù hợp. Ông Bùi Xuân Khải – Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện An Dương cho biết, đối với An Dương, quy định vùng sản xuất tập trung từ 3 ha trở lên là khó. Bởi diện tích đất không tập trung, các cánh đồng nằm xen kẽ, bình quân ruộng đất của nông dân thấp, cần sự liên kết của nhiều hộ nông dân để thực hiện. Đặc biệt, qua thực tế chỉ đạo ở các địa phương, việc chuyển vùng đối với rau màu, hoa, cây cảnh rất khó thực hiện theo tiêu chí này. Chính vì khó khăn này nên sau 3 năm thực hiện nghị quyết 10, tổng diện tích chuyển đổi sang vùng sản xuất tập trung là 1600 ha, mới đạt hơn 36% mức kế hoạch. Theo ông Khải, tiêu chí hỗ trợ chuyển vùng nên rộng khoảng 1 ha/ vùng là phù hợp với Hải Phòng. Thêm vào đó, đối với các hộ chăn nuôi quy mô vừa, đạt tiêu chí trang trại của Bộ Nông nghiệp- PTNT nhưng không đạt quy mô theo quyết định 1465 của UBND thành phố, nên chưa được hưởng chính sách hỗ trợ, trong khi giá trị sản xuất chăn nuôi khu vực này chiếm hơn 50% giá trị chăn nuôi toàn thành phố. Do vậy, số trang trại chăn nuôi xây dựng mới từ chính sách hỗ trợ đều chưa đạt kế hoạch.
Nhiều địa phương khi tiếp cận với nghị quyết 14 của HĐND thành phố ban hành tháng 12-2010 khá thất vọng khi thấy tiêu chí để được hỗ trợ chuyển đổi vùng vẫn là 3 ha, các trang trại chăn nuôi để được hưởng hỗ trợ vẫn không thay đổi tiêu chí. Phần lớn nông dân cũng cho rằng, nên thay đổi các tiêu chí này cho phù hợp với thực tế, để bà con được hưởng lợi thực sự từ chính sách hỗ trợ nông nghiệp, thủy sản của thành phố, đặc biệt trong hoàn cảnh lạm phát tăng cao như hiện nay…/.
Hoàng Yên