Các giải pháp tái cấu trúc nền kinh tế

Trải qua 25 năm đổi mới, mở cửa, kinh tế  Việt Nam thu được những thành tích khả quan. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (7%), cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, thể chế kinh tế thị trường XHCN tiếp tục được hoàn thiện… Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao.

Trải qua 25 năm đổi mới, mở cửa, kinh tế  Việt Nam thu được những thành tích khả quan. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (7%), cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, thể chế kinh tế thị trường XHCN tiếp tục được hoàn thiện… Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, tài nguyên, sử dụng nhiều lao động… Đây là vấn đề đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiệu quả, hiện đại và tái cấu trúc từ mỗi ngành, mỗi thành phần kinh tế và mỗi doanh nghiệp.

 

Các giải pháp tái cấu trúc nền kinh tế

Những nhóm ngành sử dụng nhiều lao động (may mặc, giày dép, đóng tàu…) với giá trị gia tăng thấp cần dược giảm dần

Ảnh: Duy Lân

Hải Phòng là thành phố cảng, đầu mối giao thông quan trọng, giao lưu trong nước và quốc tế, là cực tăng trưởng quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Với những tiềm năng, lợi thế so sánh, trong hơn 20 năm đổi mới, với sự cố gắng, nỗ lực của địa phương, kinh tế thành phố thu được những thành tựu to lớn, đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển Hải Phòng. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng cao, bình quân gần 10%/năm liên tục trong gần 25 năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế vùng cũng như cả nước, tạo đà quan trọng cho giai đoạn tiếp theo.

 

Tuy tốc độ tăng trưởng khá nhanh, nhưng quy mô kinh tế còn nhỏ bé, vai trò kinh tế của Hải Phòng trong vùng, khu vực chưa tương xứng với tiềm năng, vị thế cũng như mong muốn của nhân dân. Tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu chưa cao, thiếu tính ổn định, bền vững. Thu nhập bình quân thấp và có sự chênh lệch khá lớn giữa đô thị và nông thôn. Thu ngân sách nội địa còn thấp, chưa đáp ứng  yêu cầu đầu tư phát triển, giải quyết những vấn đề xã hội, xóa đói giảm nghèo.  

 

Cơ cấu kinh tế mặc dù chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm. Cơ cấu ngành công nghiệp bộc lộ  những bất hợp lý. Nhóm ngành lắp ráp, gia công, sử dụng nhiều lao động, giá trị gia tăng thấp chiếm tỷ trọng cao (gần 30% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn)  và duy trì trong thời gian quá dài. Công nghiệp phụ trợ chậm phát triển làm cho tỷ lệ nội địa hóa thấp, sức cạnh tranh không cao, đóng góp cho ngân sách thấp, tăng trưởng không bền vững, đặc biệt sau khủng hoảng kinh tế tài chính giai đoạn 2008-2009.  Cơ cấu nội bộ nhóm ngành dịch vụ, nông nghiệp, cơ cấu phát triển vùng còn nhiều bất hợp lý…

 

Để nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững cho thời kỳ 2011-2020, cần tái cấu trúc nền kinh tế thành phố, tập trung vào cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và thành phần kinh tế, doanh nghiệp. Tái cơ cấu đi cùng với hoàn thiện mô hình tăng trưởng, từ việc tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên, lao động chất lượng thấp sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, chủ yếu dựa vào khoa học công nghệ, lao động có chất lượng cao, cách quản lý hiện đại gắn với thị trường và chuỗi giá trị toàn cầu; gắn giữa tăng trưởng với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Các giải pháp cụ thể cần tập trung tổ chức thực hiện gồm: 

 

- Thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp. Tốc độ tăng GDP dịch vụ luôn lớn hơn tốc độ tăng trưởng GDP chung, giảm dần và duy trì hợp lý nhóm ngành nông nghiệp, thuỷ sản. Phấn đấu đến năm 2020, nhóm dịch vụ chiếm tỷ trọng 60-65%; nhóm công nghiệp-xây dựng chiếm 30-35%, nhóm nông nghiệp, thuỷ sản dưới 5% trong tổng GDP.

 

- Tái cấu trúc các ngành sản xuất công nghiệp theo hướng: tăng hàm lượng khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm. Ưu tiên phát triển các mặt hàng, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Giảm dần (một cách tương đối) tỷ trọng nhóm ngành may mặc, giày dép, đóng tàu (mang tính chất lắp ráp, gia công, những công đoạn cần ít chất xám, công nghệ đơn giản), sản xuất vật liệu xây dựng, luyện, cán thép (sử dụng nhiều tài nguyên, năng lượng, nhiên liệu) sang các nhóm ngành cơ khí chính xác, cơ khí chế tạo, điện tử, công nghiệp phụ trợ, công nghệ cao, thiết kế sản phẩm, chế tạo linh kiện, khuôn mẫu, các sản phẩm sạch, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, thân thiện với môi trường. Khuyến khích các dự án sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao,  đóng góp nhiều cho ngân sách thành phố. Không tiếp nhận mới các dự án có ảnh hưởng đến môi trường, sử dụng diện tích lớn, công nghệ lạc hậu, nguồn đóng góp cho ngân sách thấp.

 

- Với nông nghiệp, chú trọng các sản phẩm sử dụng công nghệ sinh học hiện đại, các sản phẩm sạch, công nghệ chế biến, bảo quản tiên tiến. Phát triển cơ sở sản xuất tập trung quy mô lớn vừa bảo đảm hiệu quả đầu tư, vừa thuận lợi xử lý môi trường. Phát triển hệ thống trang trại, gia trại; quan tâm phát triển sản xuất giống, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp gắn với đô thị.

 

- Với nhóm ngành dịch vụ, coi trọng các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ gắn với dịch vụ cảng, vận tải, kho bói, logistic, dịch vụ thương mại du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ có hàm lượng tri thức và công nghệ cao. Chú ý dịch vụ giáo dục và đào tạo, y tế với tư cách trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.

 

- Xây dựng cơ cấu kinh tế đa thành phần nhằm tăng cường huy động nguồn lực trong dân và coi trọng vai trò kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, chú trọng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mô hình đa sở hữu trong công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, hoàn thành việc đổi mới, sắp xếp, cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, nhất là doanh nghiệp công ích.

 

- Cơ cấu vùng, địa bàn cần tập trung cao cho khu đô thị, đô thị vệ tinh, khu công nghiệp, khu kinh tế, hướng ra biển và làm giàu từ biển. Chú trọng khu vực nông nghiệp, hạ tầng nông thôn, nông dân tạo sự phát triển hài hòa giữa các vùng, khu vực. Tập trung đầu tư hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn (đường giao thông, cấp điện, cấp nước, viễn thông, xử lý chất thải, nước thải, hệ thống trường học, bệnh viện) để  người nông dân có điều kiện sử dụng hạ tầng như  đô thị.

 

- Trên cơ sở cơ cấu kinh tế, xác định cơ cấu đầu tư phù hợp, vừa huy động tối đa các nguồn lực, vừa định hướng cho cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần phát triển. Coi trọng xã hội hoá trong đầu tư, đầu tư của khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài. Áp dụng mô hình kết hợp công tư (PPP) trong đầu tư kết cấu hạ tầng. Ngân sách chỉ tập trung đầu tư cho kết cấu hạ tầng và định hướng, dẫn dắt đầu tư những nhóm ngành mới, địa bàn khó khăn.

 

- Tái cấu trúc doanh nghiệp: phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Các doanh nghiệp cần rà soát lại các công đoạn của quá trình tái sản xuất, lưu thông, hoàn thiện hệ thống quản lý, đổi mới công nghệ, thiết bị, nhằm tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm chi phí trung gian, nâng cao hiệu quả từng doanh nghiệp dựa trên cơ sở chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng và dịch vụ. Cơ cấu lại nguồn vốn, hình thức sở hữu, áp dụng mô hình đa sở hữu, mô hình quản trị hiện đại. Từng bước nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp. Chú trọng đáp ứng việc tiêu thụ sản phẩm trong nước, quan tâm mở rộng xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Chủ động tham gia vào mạng phân phối toàn quốc cũng như toàn cầu.

 

Giải quyết tốt các nhiệm vụ trên là chúng ta đã biến các thách thức thành cơ hội để từng bước tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả, theo hướng hiện đại; khai thác triệt để tiềm năng, lợi thế, góp phần quan trọng cho việc phát triển nhanh, bền vững thành phố giai đoạn 2010-2020.

 

PGS. TS  Đan Đức Hiệp

Phó chủ tịch UBND thành phố