Các giá trị văn hoá truyền thống với vấn đề giao lưu hội nhập trong quá trình phát triển

Nghị quyết Đại hội 10 nhấn mạnh: “Trong những năm sắp tới, trên thế giới, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục phục hồi và phát triển những vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường. Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội nhưng cũng chứa đứng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức cho các quốc gia nhất là các nước đang phát triển” (Văn kiện ĐH 10, trang 21).

Rõ ràng phát triển là quy luật tất yếu của xã hội loài người. Nhờ có phát triển mà con người đã đi qua được từ buổi hồng hoang tới xã hội hiện đại như ngày nay. Tuy nhiên phát triển như thế nào để mỗi quốc gia, mỗi thời đại tránh được sự đối mặt với những thách thức của môi trường tự nhiên với xã hội, không hại đến đời sống nhân loại hiện tại và mai sau.

Hiện nay trên thế giới, không có một quốc gia nào, khu vực nào, bất kể trình độ phát triển cao thấp đến đâu lại không bị thu hút vào quá trình giao lưu văn hoá theo xu hướng gìn giữ các lợi ích chung vì sự phát triển của nhân loại.

Hàng ngày, qua hệ thống truyền thông đại chúng, mọi người trên hành tinh có thể nắm bắt những tin tức phát ra từ những nơi cách xa vạn dặm. Sách, báo, phim ảnh, video, internet, âm nhạc... nhanh chóng vượt qua biên giới quốc gia để đến với công chúng toàn cầu. Quốc tế hoá đang là xu hướng mạnh mẽ chi phối sự phát triển các hoạt động kinh tế thế giới. Từ lĩnh vực kinh tế, xu hướng này sẽ lan toả sang các lĩnh vực khác như chính trị, văn hoá, xã hội. Đương nhiên sự vận động của văn hoá còn theo một quy luật riêng. Đó là sự giao lưu qua màng lọc của văn hoá dân tộc thuộc các cộng đồng dân tộc – quốc gia khác nhau, nhằm tiếp nhận những yếu tố thích hợp để văn hoá của mỗi cộng đồng dân tộc có thể phát triển, giàu có thêm về giá trị mà vẫn giữ được bản sắc độc đáo của mình. Đó là sự phát triển bền vững trong tính đa dạng toàn cầu nhân loại.

“Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Lời tuyên bố đó của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã mở ra một thời kỳ mới trong qua trình giao lưu và hội nhập văn hoá. Giao lưu và hội nhập văn hoá là nhằm mục đích phát triển cho nên nó phải được xây dựng trên những nguyên tắc được đúc kết bằng kinh nghiệm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, bảo đảm phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.

Văn hoá nước ta đang đứng trước thời cơ phát triển  đầy triển vọng, nhưng cũng đầy thử thách. Triển vọng là ở chỗ, khi Đảng ta tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước” là lúc nước ta có thể tiếp cận với những thành tựu mới nhất của các nền văn hoá trên thế giới. Thử thách là ở chỗ, nước ta phải làm sao chuẩn bị những điều kiện tốt nhất để hoà nhập với văn minh nhân loại mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc của mình. Để làm rõ vắn đề này, một lần nữa phải đặt nó trong cấu trúc của đời sống xã hội. ở đây cấu trúc đời sống xã hội có thể so sánh như một cơ thể sống có hệ thống phức tạp.

Trong qua trình phát triển, một cơ thể sống muốn tồn tại và phát triển, vượt qua mội thử thách khắc nhiệt của ngoại cảnh, thì bản thân nó phải hội đủ hai điều kiện quan trọng. Đó là:

- Một cấu trúc bền vững

- Có bộ “gien” nhạy bén, sẵn khả năng thích nghi để tiêu hoá. Nghĩa là trước sự tác động của môi trường bên ngoài, bộ gien ấy có thể huy động nội lực để tự vệ khi cần thiết và có thể tự điều chỉnh để phát triển.

Sự biến đổi có thể xảy ra theo hai hướng:

- Nếu trong quá trình hội nhập nền văn minh nhân loại, chúng ta biết chọn lọc, tiếp thu các tinh hoa của nền văn minh nhân loại để bổ xung vào nền văn hoá của ta thì chẳng những ta vẫn bao tồn được bản sắc dân tộc Việt Nam mà còn nhanh chóng làm cho nền văn hoá Việt Nam phát triển phồn thịnh.

- Nếu ngược lại, thì nền văn hoá Việt Nam sẽ bị băng hoại, chẳng những không phát triển được, mà còn nguy cơ bị đồng hoá, lai căng bởi văn hoá độc hại, ngoại lai.

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước, Văn kiện Đại hội 10 đã chỉ rõ: “Yêu cầu phát triển  văn hoá trong thời kỳ mới:  Tích cực mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hoá, chống sự xâm nhập của các loại văn hoá phẩm độc hại, lai căng….” (Văn kiện ĐH 10, trang 108).

Kinh nghiệm của thế giới cũng như của các nước trong khu vực cho thấy rõ, đồng thời với việc xây dựng kinh tế, phải ra sức bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc. Đương nhiên là không khép kín, bài ngoại mà luôn luôn tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hoá thế giới. Mỗi dân tộc đều có truyền thống văn hoá của mình, phát triển văn hoá dân tộc chính là góp phần làm cho văn hoá của các dân tộc trong khu vực và trên thế giới thêm phong phú. Bảo tồn văn hoá của dân tộc ta đi đôi với tiếp thu tinh hoa văn hoá Á Đông và thế giới càng làm cho văn hoá dân tộc thêm phong phú và sẽ góp phần làm giàu thêm cho văn hoá thế giới. Như vậy sự giao lưu văn hoá giữa các quốc gia là cần thiết và có lợi cho mỗi dân tộc. Điều mà chúng ta cần lưu ý là đề phòng khuynh hướng du nhập thiếu chọn lọc “những yếu tố văn hoá ngoại lai, thậm chí những căn bã, những chất phế phẩm thải của các loại sản phẩm văn hoá thô lậu và nhiều nước văn minh đã bài trừ”.

Văn hoá Việt Nam nhờ có “gien” nội sinh giàu sức sống đã thâu hoá được những yếu tố ngoại sinh ưu việt và tương thích hợp như đã Việt hoá các yếu tố văn hoá của phương Bắc (Hán tự, các đạo Nho, Lão, Khổng...), của phương Nam (Phật giáo) và của phương Tây (Chữ quốc ngữ, khoa học, nghệ thuật hiện đại). Do đó mà văn hoá Việt Nam liên tục phát triển, ngày càng hoà nhập vào khu vực và thời đại mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc đậm đà. Bài học lịch sử trên cho phép ta tin vào tiền đồ sán lạn của văn hoá Việt Nam tại khu vực Đông Nam á để xứng với tên gọi: “Văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.

 

Qua thực tiễn giao lưu văn hoá trong thời Bắc thuộc cho thấy, văn hoá Việt là một nền văn hoá có sức sống bền bỉ đến diệu kỳ, các giá trị của nó đã hình thành và bám rễ vào đời sống nhân dân ngay từ thời vua Hùng dựng nước. Chính quyền đô hộ ngoại bang dù có sử dụng các thủ đoạn đồng hoá bằng “bạo lực” hay “diễn biến hoà bình” thì văn hoá Việt càng được tôi luyện như “lửa thử vàng”. Một mặt, bằng các sinh hoạt văn hoá ở làng, xã, người Việt ra sức giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc mình với ý thức tự giác rất cao, mặt khác họ lại sẵn sàng thừa nhận những yếu tố văn hoá ngoại sinh thích hợp để tự bồi đắp và nâng mình lên ngang tầm thời đại. Đây cũng là một phương sách cần thiết để chống lại âm mưu “đồng hoá” của ngoại bang, xây dựng một dân tộc có bản sắc văn hoá đậm đà.

Hơn nữa, cánh cửa giao lưu văn hoá giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày một mở rộng và phát triển. Nhờ vậy nhân dân ta đã mở rộng tầm nhìn văn hoá thông tin qua việc tiếp nhận các giá trị văn hoá thế giới. Bạn bè ta trên thế giới thông qua giao lưu văn hoá đã hiểu biết hơn về văn hoá Việt Nam, đất nước, con người, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam rtong quá khứ và hiện tại. Có thể khẳng định rằng các thành tựu về văn hoá trong thời kỳ đổi mới có nhiều bước tiến mới chính là nhờ vào sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta. Đảng ta đã xác định văn hoá là một động lực phát triển đồng thời là mục tiêu trong xây dựng xã hội mới. Quan điểm này của Đảng không chấp nhận văn hoá như là “cái đuôi’ đi sau kinh tế trong đầu tư phát triển. Văn hoá phải nằm trong sự quan tâm thường xuyên của các cấp lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước chứ không thể khoán trắng cho ngành văn hoá lo và phó mặc cho xã hội tự lo. Quan tâm tới văn hoá là phải chăm lo xây dựng và phát triển mọi lĩnh vực rộng lớn trong đời sống tinh thần của nhân dân. Các cấp lãnh đạo, quản lý cần xoá bỏ quan niệm hoạt động văn hoá chỉ là công cụ tuyên truyền mà hoạt động văn hoá chính là hoạt động chăm sóc phần hồn của con người, một hoạt động không kém phần quan trọng như việc chăm lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở cho từng người dân.

Có như vậy mới tạo ra được một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của đời sống tinh thần nhân dân ngày càng phát triển phong phú đa dạng theo hướng vươn tới những giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước theo hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Mục tiêu tổng quát trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2006 – 2010 Đại hội 10 của Đảng đề ra là: “Sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” (Văn kiện ĐH 10, trang 23)

Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển là mục tiêu trực tiếp của ĐH X, nó có ý nghĩa quyết định hoàn thành chiến lượcphát triển 10 năm đầu thế kỷ 21. Quan điểm phát triển trong chiến lược trên được khẳng định rõ: phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Đặc biệt phải đảm bảo sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên.

Tóm lại các giá trị văn hoá truyền thống với vấn đề giao lưu hội nhập trong quá trình phát triển là vấn đề cần quan tâm. Quan tâm tới văn hoá là phải chăm lo xây dựng sự phát triển mang tính bền vững là một lĩnh vực rộng lớn trong đời sống tinh thần của nhân dân. Các cấp lãnh đạo, quản lý văn hoá cần phải thực hiện theo các phương hướng sau:

- Nhiệm vụ chính trị, tư tưởng cốt lõi chỉ đạo các hoạt động văn hoá là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Văn hoá là một bộ phận khăng khít của sự nghiệp đổi mới.

- Phát triển văn hoá dân tộc đi liền với mở rộng giao lưu văn hoá với nước ngoài, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại.

- Xã hội hoá các hoạt động văn hoá theo định hướng của Đảng và sự quản lý của Nhà nước khắc phục tình trạng “hành chính hoá” các tổ chức văn hoá văn nghệ và xu hướng “thương mại hoá”.  

                                                                                      TS. Vũ Thị Kim Xuyến

                                                                                  (Học viện chính trị Khu vực 1)