Bước thể chế hóa quan trọng trong hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam
Góp ý về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật ngày 23/10, Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Lê Nữ Thùy Dương (Đoàn TP Đồng Nai), Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đánh giá cao lần đầu tiên Luật quy định những đạo luật mang tính nền tảng, bổ sung khái niệm “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, rút gọn thủ tục và giảm chi phí tuân thủ.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, ngày 23/10, Quốc hội đã nghe Tờ trình, Báo cáo thẩm tra và thảo luận tại Tổ về một số dự án, trong đó có dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật.
Thảo luận tại Tổ 4 (gồm các Đoàn TP Đồng Nai, Quảng Trị, Điện Biên) về dự án Luật này, ĐBQH Lê Nữ Thùy Dương cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Luật thay thế Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025. Theo Đại biểu, dự thảo nhìn chung bám sát Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam.
Cân nhắc kỹ việc lược bỏ nghị quyết của Quốc hội
Qua nghiên cứu, Đại biểu nhận thấy dự thảo Luật không tiếp tục xác định 5 nhóm hình thức là văn bản quy phạm pháp luật, gồm nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết của Chính phủ và các nghị quyết liên tịch, với mục tiêu đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Đại biểu đánh giá rất cao định hướng tinh gọn này. “Tuy nhiên, đối với nghị quyết của Quốc hội, tôi cho rằng cần được xem xét kỹ lưỡng hơn”, Đại biểu nêu quan điểm.
Theo Đại biểu Lê Nữ Thùy Dương, Hiến pháp ghi nhận nghị quyết của Quốc hội, với cùng yêu cầu về biểu quyết thông qua. Đây là những hình thức văn bản gắn với vị trí, vai trò đặc biệt của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Thực tiễn cho thấy nhiều nghị quyết của Quốc hội có chứa quy phạm pháp luật, có hiệu lực bắt buộc chung đối với các Bộ, ngành, địa phương, người dân và doanh nghiệp. Tiêu biểu là các nghị quyết về tài chính, ngân sách; các nghị quyết thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù cho một số địa phương, lĩnh vực; các nghị quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.
Đại biểu cho biết, dự thảo Luật chuyển các nội dung thí điểm chính sách, tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài thời hạn áp dụng luật sang hình thức luật. Trong khi đó, luật chỉ quy định các vấn đề mang tính ổn định, có giá trị lâu dài. Các nội dung thí điểm, có thời hạn hoặc áp dụng riêng cho một địa phương vốn mang tính tạm thời, linh hoạt. “Việc đưa các nội dung nghị quyết trở thành luật chưa phù hợp với quy định này, có thể ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ thống luật”, Đại biểu nhấn mạnh.
Do đó, Đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, chỉnh lý theo hướng tiếp tục xác định nghị quyết của Quốc hội, bổ sung hình thức văn bản này vào thứ bậc hiệu lực, theo hướng nghị quyết của Quốc hội cùng thứ bậc với luật.
Làm rõ khái niệm “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”
Đại biểu đánh giá cao lần đầu tiên trong Luật quy định những đạo luật mang tính nền tảng, theo đó các nguyên tắc của pháp luật được các đạo luật này định hướng, đóng vai trò chi phối. “Đây là bước thể chế hóaquan trọng Kết luận số 09-KL/TW về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam”, Đại biểu khẳng định.
Theo Đại biểu, hiện nay, khái niệm “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” được viện dẫn làm căn cứ để Tòa án không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài, hủy phán quyết trọng tài; là giới hạn của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Quy định của dự thảo về các luật có tính nền tảng phần nào xác định được các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam được các đạo luật này định hướng và chi phối.
Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản luật định nghĩa khái niệm này. Nội hàm của khái niệm chỉ được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Theo Đại biểu, thực tiễn cho thấy việc áp dụng và giải thích “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” còn chưa cụ thể hoặc chưa thống nhất.
“Điều này làm hạn chế các giao dịch dân sự, kinh tế có yếu tố nước ngoài với Việt Nam và hạn chế thoả thuận về luật áp dụng. Như vậy, cũng tạo ra những khó khăn về hiểu biết, áp dụng pháp luật nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam khi bên nước ngoài không đồng ý chọn áp dụng luật Việt Nam trong giao dịch hợp đồng”, Đại biểu phân tích.
Do đó, Đại biểu đề nghị bổ sung cụ thể khái niệm “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” trong Luật, trên cơ sở tham khảo Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP, theo hướng xác định đây là những nguyên tắc xử sự cơ bản, có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng, giải thích và áp dụng pháp luật Việt Nam, được ghi nhận tại Hiến pháp và các luật có tính nền tảng (Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính).
Mở rộng phạm vi áp dụng án lệ, tập quán, lẽ công bằng
Qua nghiên cứu, Đại biểu nhận thấy các nguồn luật bổ trợ (án lệ, tập quán, lẽ công bằng) của pháp luật hiện nay mới được ghi nhận trong một số đạo luật, như Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Thương mại, Luật Trọng tài thương mại; án lệ được lựa chọn, công bố và áp dụng theo Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.
Tuy nhiên, phạm vi áp dụng các nguồn bổ trợ còn giới hạn trong lĩnh vực dân sự, thương mại. Trong khi đó, các vấn đề pháp lý và quan hệ xã hội phát sinh ngày càng nhiều hơn, văn bản quy phạm pháp luật chưa dự liệu được, nên việc mở rộng áp dụng các nguồn luật bổ trợ sẽ giải quyết các khoảng trống pháp lý.
Theo Đại biểu, trong thực tiễn xét xử, khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật chưa phù hợp, Thẩm phán không có quyền áp dụng lẽ công bằng, tập quán mà chỉ có quyền kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản. Cơ chế này còn một số hạn chế: quy trình kiến nghị qua nhiều thủ tục, vụ việc có thể phải tạm đình chỉ để chờ kết quả, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chậm được bảo vệ. Đối với quy định hợp pháp nhưng không còn phù hợp, hoặc việc áp dụng dẫn đến kết quả chưa công bằng, chưa đảm bảo công lý, thẩm phán vẫn phải áp dụng.
“Tôi cho rằng, cần luật hóa đầy đủ phạm vi áp dụng và xác định rõ giá trị pháp lý của các nguồn bổ trợ để Tòa án và các cơ quan, tổ chức có cơ sở giải quyết những vấn đề văn bản quy phạm pháp luật chưa dự liệu hoặc chưa cụ thể trên cơ sở kế thừa Bộ luật Dân sự năm 2015”, Đại biểu đề xuất.
Theo Đại biểu, định hướng này cũng phù hợp với tinh thần Kết luận số 09-KL/TW của Bộ Chính trị về mở rộng phạm vi áp dụng và xác định rõ giá trị pháp lý của các nguồn bổ trợ, theo hướng án lệ, tập quán, lẽ công bằng.
Nguyên tắc chung cho giai đoạn giao thoa hiệu lực giữa luật cũ và luật mới
Qua nghiên cứu, Đại biểu nhận thấy hiện nay một số luật quy định về chuyển tiếp giữa quy định mới và quy định cũ còn thiếu, chưa cụ thể, chưa rõ ràng. Nhiều trường hợp đang được triển khai theo luật cũ thì luật mới phát sinh hiệu lực, nhất là các dự án đầu tư, thủ tục về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản đang thực hiện thủ tục chưa hoàn thành.
Theo Đại biểu, khi điều khoản chuyển tiếp không dự liệu hết các trường hợp, người dân, doanh nghiệp và cả cơ quan nhà nước đều khó khăn trong việc áp dụng; có trường hợp hồ sơ phải thực hiện lại từ đầu, dự án bị kéo dài, thậm chí phải ban hành cơ chế đặc thù để tháo gỡ.
“Đây chính là giai đoạn giao thoa hiệu lực mà pháp luật hiện chưa có một nguyên tắc chung để xử lý, mà được quy định trong từng luật cụ thể”, Đại biểu nhấn mạnh.
Do vậy, Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc áp dụng pháp luật trong giai đoạn giao thoa hiệu lực. Theo đó, trường hợp điều khoản chuyển tiếp của luật mới không quy định, các chủ thể được lựa chọn áp dụng luật cũ hoặc luật mới đối với quan hệ, thủ tục đã phát sinh trước ngày luật mới có hiệu lực.