Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Hội nghị bàn giải pháp phát triển chăn nuôi bền vững
Hôm qua (12/3), Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) tổ chức Hội nghị Phòng, chống dịch bệnh và Phát triển chăn nuôi bền vững. Sự kiện do Thứ trưởng Phùng Đức Tiến chủ trì.
Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi và Thú y (CN&TY), trước đây chăn nuôi nông hộ chiếm khoảng 70% tổng quy mô, hiện nay xu hướng này đã giảm xuống. Ngược lại, chăn nuôi quy mô trang trại và công nghiệp tăng trưởng mạnh nhờ sự tham gia của các DN lớn.
Quy mô đàn vật nuôi của Việt Nam hiện khá lớn, đàn lợn khoảng 31 triệu con, gia cầm trên 500 triệu con, đàn trâu 2 triệu con, bò hơn 6 triệu con, dê cừu khoảng 2,8 triệu con. Tuy nhiên, nếu tính bình quân đầu người, sản lượng thịt, trứng và sữa vẫn ở mức thấp so với tiềm năng của thị trường hơn 100 triệu dân và hàng chục triệu lượt khách quốc tế/năm.
Công nghiệp thức ăn chăn nuôi đã phát triển mạnh, với sản lượng khoảng 22 triệu tấn/năm, nhưng hoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu (trên 65% nguyên liệu thô, trên 90% thức ăn bổ sung).
Dù quy mô sản xuất ngày càng lớn, hệ thống quản lý ngành ở nhiều địa phương vẫn chưa theo kịp. Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, một trong những thách thức lớn là hệ thống CN&TY ở cơ sở đang bị thu hẹp, thiếu nhân lực và tổ chức. Tại một số địa phương, cơ quan CN&TY thiếu biên chế, dẫn đến việc kiểm soát dịch bệnh, quản lý vận chuyển và giết mổ gặp khó khăn. Trong khi đó, ngành chăn nuôi lại có quy mô hàng hóa lớn, tốc độ tăng trưởng cao và liên quan trực tiếp an ninh thực phẩm. Về vấn đề quy định pháp luật, một số quy định mới chỉ xử lý các vấn đề cấp bách.
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, nếu không có khoa học công nghệ, ngành chăn nuôi khó có thể thay đổi căn bản. Những năm gần đây, DN đã tiếp cận nhiều công nghệ mới như giống, thức ăn, xử lý môi trường, kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, tốc độ đổi mới công nghệ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Một hướng đi quan trọng là phát triển công nghiệp sinh học, thay vì chỉ dừng ở công nghệ sinh học truyền thống. Việc ứng dụng các kỹ thuật di truyền, công nghệ phôi, vi sinh và công nghệ tế bào có thể tạo ra bước đột phá về giống vật nuôi.
Ngoài ra, ngành cần thúc đẩy tự động hóa trong trang trại, công nghệ chuồng trại, thiết bị vắt sữa, quản lý thức ăn, giám sát đàn vật nuôi bằng dữ liệu số. Điều này không chỉ giảm chi phí lao động mà còn nâng cao độ chính xác và năng suất. Lãnh đạo Bộ NN&MT cũng chỉ rõ vấn đề cần giải quyết là hệ thống giết mổ chế biến. Cả nước hiện có khoảng 25.000 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ. Phần lớn trong số này chưa đáp ứng yêu cầu vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm.
Theo ông Tiến, việc duy trì mô hình giết mổ thủ công kéo dài không chỉ gây khó khăn cho quản lý dịch bệnh mà còn làm giảm giá trị gia tăng của sản phẩm. “Không có thực phẩm sạch thì không thể phát triển du lịch, cũng không thể phát triển kinh tế - xã hội”, ông Tiến nói.
Trong khi đó, tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi được chế biến sâu tại Việt Nam còn khiêm tốn, phần lớn vẫn tiêu thụ dưới dạng thịt tươi; trái ngược xu hướng tiêu dùng trên thế giới, đang chuyển mạnh sang các sản phẩm chế biến, đông lạnh, tiện lợi; giúp kéo dài thời gian bảo quản, ổn định thị trường.
Tại Hội nghị, đại diện Sở NN&MT Hà Nội cho biết, trong tổng số 682 cơ sở giết mổ trên địa bàn có 9 cơ sở công nghiệp, 26 bán công nghiệp và 647 điểm tập trung tạm thời hoặc quy mô nhỏ lẻ. Hiện lực lượng thú y kiểm soát tại 86 cơ sở, mỗi ngày những nơi này cung cấp khoảng 50.000 gia cầm, 5.000 con lợn và 450 con trâu, bò, tương đương khoảng 65% tổng lượng gia súc, gia cầm được giết mổ trên địa bàn.
Toàn TP vẫn còn 596 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ không đủ điều kiện để chính quyền địa phương cấp phép hoạt động. Do không được phép vận hành, các cơ sở này cũng không thuộc diện kiểm soát giết mổ thường xuyên của cơ quan thú y, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh dịch bệnh, mất an toàn thực phẩm.
Để xử lý tình trạng này, TP dự kiến tạo điều kiện cho 86 cơ sở đang được kiểm soát mở rộng quy mô, thu hút các điểm giết mổ nhỏ lẻ xung quanh vào. Theo kế hoạch, trong năm 2026, Hà Nội sẽ bố trí khoảng 70 - 75 điểm giết mổ tập trung tạm thời nhằm đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn chuyển tiếp. Đến năm 2030, TP phấn đấu hoàn thành sắp xếp mạng lưới và đưa vào hoạt động 20 - 25 cơ sở giết mổ tập trung, công nghiệp.