Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri Thái Nguyên tại kỳ họp 7, Quốc hội khóa XII
Bộ Kế hoạch và đầu tư trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri Thái Nguyên gửi tới kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII
*Cử tri kiến nghị: Đề nghị Chính phủ bổ sung nguồn vốn kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên để thực hiện hoàn thành các công trình trong năm 2010 với số vốn còn lại của đề án là 92,6 tỷ đồng.
Trả lời:
Tại Quyết định số 2186/QĐ-TTg ngaà 24/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân bổ vốn thực hiện Đề án kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012, tỉnh Thái Nguyên được phê duyệt tổng mức vốn thực hiện đề án cho giai đoạn 2008-2012 là 435,711 tỷ đồng, trong đó có 348,569 tỷ đồng từ nguồn trái phiếu Chính phủ. Đến nay, tỉnh Thái Nguyên đã được phân bổ 256,399 tỷ đồng trong 3 năm 2008-2010.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính xây dựng phương án ứng vốn cho Đề án. Một trong những nguyên tắc và tiêu chí ưu tiên ứng vốn năm 2011 của Đề án là các địa phương có tỷ lệ giải ngân kế hoạch năm 2010 cao (trên 80%). Theo số liệu của Kho bạc nhà nước, tỷ lệ giải ngân kế hoạch năm 2010 vốn TPCP thực hiện Đề án của tỉnh Thái Nguyên đến 31/5/2010 chỉ đạt 62,0%- không thuộc đối tượng ưu tiên ứng vốn năm 2011 của Đề án Kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên. Đề nghị tỉnh Thái Nguyên đẩy mạnh thực hiện giải ngân vốn đã được phân bổ, báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để tổng hợp và làm căn cứ cho việc phân bổ vốn trong kế hoạch năm 2011.
* Cử tri kiến nghị: Đề nghị Chính phủ bổ sung nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu cho tỉnh Thái Nguyên để bố trí cho các công trình hoàn thành cấp thiết cần khởi công trong năm 2010 và đối ứng các dự án ODA với số vốn 290 tỷ đồng.
Trả lời:
Kế hoạch vốn đầu tu phát triển năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1908/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2009, hiện nay không có nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu bổ sung kế hoạch năm 2010. Vì vậy, đề nghị tỉnh chủ động bố trí từ nguồn vốn đã được giao theo Quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện. Riêng đối với nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản 5246/BKH-TH ngày 29/7/2010 trình Thủ tướng Chính phủ để tạm ứng kế hoạch năm 2011 cho các địa phương theo tinh thần chỉ đạo tại Thông báo số 74/TB-VPCP ngày 15/3/2010 của Văn phòng Chính phủ, trong đó có đề xuất tạm ứng vốn đối ứng cho một số dự án ODA của tỉnh Thái Nguyên.
* Cử tri kiến nghị: Đề nghị bổ sung nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho tỉnh để đầu tư vào Bệnh viện Đa khoa tuyến huyện và tỉnh để thực hiện hoàn thành theo đề án được duyệt với mức vốn 420 tỷ đồng; trong đó nguồn vốn cho dự án Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên (dự án do Bộ Y tế làm chủ đầu tư trên địa bàn với số vốn 150 tỷ đồng).
Trả lời: Căn cứ Quyết định 124/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 và Thông báo vốn số 350/BKH-TH ngày 18/01/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2010 tỉnh Thái Nguyên được giao 98 tỷ đồng từ nguồn vốn TPCP (trong đó 45 tỷ đồng cho các dự án bệnh viện tuyến huyện, 53 tỷ đồng cho các dự án bệnh viện tuyến tỉnh), dự án bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên thuộc các dự án của Bộ Y tế được bố trí 40 tỷ. Đề nghị UBND tỉnh Thái Nguyên và Bộ Y tế sử dụng số vốn được giao triển khai thực hiện dự án. Trong trường hợp dự án giải ngân hết số vốn được giao và cấn bổ sung vốn để thanh toán khối lượng hoàn thành, đề nghị tỉnh có báo cáo cụ thể về tình hình thực hiện, khối lượng hoàn thành, kết quả giải ngân để làm cơ sở trình Thủ tướng Chính phủ và làm căn cứ bố trí kế hoạch vốn năm 2011.
* Cử tri kiến nghị:
- Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét chưa thu hồi nguồn vốn ứng trước của dự án đường ĐT 268 năm 2010 với số vốn là 25 tỷ đồng để tỉnh Thái Nguyên tập trung nguồn vốn đầu tư hoàn thành toàn bộ dự án đường ĐT268 trong năm 2010.
- Đề nghị cho phép sử dụng tiếp nguồn vốn ứng trước cho hạ tầng khu công nghiệp Sông Công năm 2009 chưa giải ngân hết sang kế hoạch năm 2010 với số vốn là 9 tỷ đồng để thực hiện giải phóng mặt bằng và đầu tư hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp Sông Công trong năm 2010.
Trả lời:
- Về đề nghị hoãn thu hồi vốn ứng trước: Việc thu hồi vốn ứng trước được thực hiện theo Quyết định số 1149/QĐ-TTg ngày 26/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1908/QĐ-TTg ngày 19/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Đề nghị tỉnh thực hiện theo đúng các Quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ.
- Về nguồn vốn ứng trước cho hạ tầng khu công nghiệp Sông Công: Theo qui định tại điểm a, khoản 1, Điều 2 Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg ngày 05/2/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế- xã hội đối với các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 và Quyết định số 43/2009/QĐ-TTg ngày 19/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN tại các địa phương có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, Thái Nguyên sẽ được ngân sách Trung ương hỗ trợ tổng cộng 170 tỷ đồng, trong đó 100 tỷ hỗ trợ xây dựng hạ tầng 1 KCN và 70 tỷ hỗ trợ các cụm công nghiệp.
Xét các yếu tố về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, cùng với việc hiện nay tuyến đường cao tốc Hà Nội- Thái Nguyên đã khởi công xây dựng sẽ là những yếu tố thuận lợi cho các KCN trên địa bàn tỉnh có cơ hội phát triển. Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhất trí với kiến nghị của tỉnh Thái Nguyên trình Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng các điều kiện và mức hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương cho các KCN của tỉnh như đối với địa phương có điều kiện khó khăn ở khu vực đồng bằng qui định tại Quyết định số 43/2009/QĐ-TTg ngày 19/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ (hỗ trợ cho 2 dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật KCN, tối đa không quá 70 tỷ đồng cho mỗi dự án). Tại công văn số 9388/VPCP-KTTH ngaà 31/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với kiến nghị này.
Về phân bổ vốn hỗ trợ: Hiện nay, khả năng cân đối từ ngân sách Trung ương là rất hạn chế. Bên cạnh đó, cần đảm bảo sự công bằng trong chính sách hỗ trợ từ Trung ương cho các địa phương nên tổng mức hỗ trợ cho 02 KCN và các cụm công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên không vượt quá 70 tỷ đồng. Trong 170 tỷ đồng hỗ trợ cho khu, cụm công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên thì phần vốn hỗ trợ cụm công nghiệp được thông báo chung trong hỗ trợ thực hiện theo Nghị quyết 37/NQ-TW ngaà 01/7/2004 của Bộ Chính trị và do địa phương chủ động bố trí.
Như vậy, ngoài KCN Sông Công, Thái Nguyên sẽ được hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương cho đầu tư hạ tầng KCN 2. Tính đến hết kế hoạch năm 2010, Thái Nguyên đã được ngân sách Trung ương hỗ trợ tổng cộng 90 tỷ đồng cho đầu tư hạ tầng KCN. Theo phương án phân bổ như trên thì KCN Sông Công đã được hỗ trợ hết mức tiến tối đa qui định cho mỗi dự án (70tỷ đồng), phần tiền hỗ trợ còn lại sẽ được điều chuyển sang hỗ trợ cho KCN thứ hai.
Do vậy, đề nghị cho phép sử dụng tiếp nguồn vốn ứng trước cho hạ tầng KCN Sông Công năm 2009 chưa giải ngân hết sang kế hoạch năm 2010 với số vốn là 9 tỷ đồng để thực hiện giải phóng mặt bằng và đầu tư hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải KCN Sông Công trong năm 2010 và không có cơ sở xem xét. Đề nghị tỉnh cân đối, sử dụng đúng nguồn vốn ứng trước cho hạ tầng KCN Sông Công năm 2009 chưa giải ngân hết sang kế hoạch năm 2010 theo như phương án phân bổ mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như Bộ Tài chính đã đề xuất (công văn số 16990/BTC-ĐT ngày 02/12/2009 của Bộ Tài chính và công văn số 9370/BKH-QLKKT ngày 04/12/2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
* Cử tri kiến nghị:
Đề nghị Chính phủ quan tâm chỉ đạo các Bộ, ngành tiếp tục bố trí nguồn vốn đối với các dự án, công trình chưa được đầu tư hoàn thành nhằm xây dựng Thái Nguyên thành trung tâm vùng kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, quốc phòng trong giai đoạn 2011-2020, cụ thể: Bố trí đủ nguồn vốn cho 9 dự án với 52 công trình nhà ở sinh viên sẽ hoàn thành vào tháng 7 năm 2010 với tổng kinh phí là 344.406 triệu đồng, gồm: vốn xây lắp (chưa kể phát sinh theo qui định) là 285.217 triệu đồng; vốn chi phí khác (tư vấn thiết kế, giám sát, chi ban quản lí dự án) là 59.189 triệu đồng.
Thực hiện Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho sinh viên qui định: vốn ngân sách trái phiếu Chính phủ chỉ cấp cho công tác xây lắp, địa phương làm chủ đầu tư chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng. Tỉnh Thái Nguyên đã chi một phần kinh phí cho việc giải phóng mặt bằng đối với các dự án, nhưng Thái Nguyên là địa phương còn nhiều khó khăn, Trung ương phải trợ cấp 70% nên ngân sách tỉnh không có khả năng để bố trí chi các chi phí trên. Hơn nữa, theo Luật Ngân sách việc địa phương chi kinh phí cho công tác giải phóng mặt bằng và chi phí thiết bị cho các dự án là vi phạm Luật. Do vậy, đề nghị Chính phủ xem xét qui định tại khoản 1, Điều 4 của Quyết định trên về nguồn vốn đầu tư xây dựng nhà ở sinh viên từ ngân sách nhà nước “trái phiếu Chính phủ chi cho công tác xây dựng”, thay cụm từ “xây lắp” bằng “xây dựng” vì qui định như vậy mới phù hợp với Luật và thực tiễn (công tác xây dựng bao gồm cả phần chi phí xây lắp và chi phí khác).
Trả lời: Theo thông báo của Văn phòng Chính phủ tại văn bản số 211/TB-VPCP ngày 26/7/2010, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến đồng ý việc ứng vốn năm 2011 cho các dự án xây dựng nhà ở sinh viên đã được TTCP phê duyệt danh mục và đã được bố trí kế hoạch đầu tư năm 2010; giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch ứng vốn cho từng dự án. Vì vậy, đề nghị UBND tỉnh Thái Nguyên làm việc với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan báo cáo kế hoạch ứng vốn cho từng dự án để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ theo qui định.
Về đề nghị sửa đổi các qui định của Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, đề nghị UBND tỉnh Thái Nguyên có văn bản kiến nghị cụ thể trình Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng để được xem xét, sửa đổi. Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện theo chức năng nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao.
* Cử tri kiến nghị: Đề nghị Chính phủ quan tâm xem xét tình trạng mua đi bán lại của các nhà đầu tư đối với dự án Nuiphaovica, tình trạng trên đã làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân xung quanh vùng dự án như: người dân không còn đất canh tác mà dự án thì bỏ không.
Trả lời: Dự án được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy phép số 2377/GP ngày 03/02/2004 với mục tiêu: khai thác, chế biến vàng, đồng, vonfram, fluorit và bismut; cấp Giấy chứng nhận điều chiỉh số 2377/GPĐC1 ngày 26/5/2005, sửa đổi phần mục tiêu và phạm vi kinh doanh, xác định rõ hơn phạm vi địa điểm thực hiện dự án, loại trừ diện tích khu vực mỏ Phục Linh.
Sau khi phân cấp, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ba lần điều chỉnh, cấp các Giấy chứng nhận đầu tư: số 2377/GCNĐC1/17/1 ngày 17/5/2007 thay đổi tên đối tác Việt Nam do sáp nhập công ty và thay đổi tên Công ty; số 2377/GCNĐC2/17/1 ngày 04/12/2007 thay đổi công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Đầu tư Thái Nguyên thành công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Thái Nguyên (Batimex) do đổi tên và Công ty Tiberon Minerals Pte. Ltd (Singapore) thay Công ty Tiberon Minerals Ltd (Canada) và Giấy CNĐT số 2377/GP-TNg ngày 19/5/2008 đăng ký lại dự án đầu tư.
Theo qui định tại Giấy chứng nhận đầu tư, vốn đầu tư đăng ký của dự án là 147.000.000 USD, vốn điều lệ là 44.100.000 USD, trong đó Tiberon Singapore (TBR) góp 30.870.000 USD (chiếm 70% vốn điều lệ); các Bên Việt Nam góp 30% gồm Batimex góp 6.615.000 USD (chiếm 15% vốn điều lệ); Intracorp góp 6.615.000 USD (chiếm 15% vốn điều lệ).
Đến ngày 30/6/2009, tổng số vốn thực góp vào vốn điều lệ là 34.970.000 USD (chiếm 79,3% của vốn điều lệ), trong đó IntraCorp góp 4.000.000 USD, Batimex góp 100.000 USD, Tiberon Singapore (TBR) góp 30.870.000 USD. Tổng số vốn đã vay là 96.227.702 USD. Tổng số vốn đã huy động của Công ty liên doanh là 131.196.702 USD. Tổng chi phí cho dự án là 130,4 triệu USD.
UBND tỉnh Thái Nguyên xác định đây là dự án trọng điểm của tỉnh nên đã tập trung chỉ đạo các sở ban ngành liên quan, UBND huyện Đại Từ phối hợp với các nhà đầu tư khẩn trương triển khai công tác giải phóng mặt bằng. Nhà đầu tư đã thực hiện tốt các qui định của Nhà nước Việt Nam về công tác đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư; thường xuyên báo cáo UBND tỉnh Thái Nguyên và các cơ quan chức năng về công tác đền bù GPMB, tái định cư. Công tác bồi thường GPMB được tiến hành trên diện tích 625 ha, bao gồm: Moong khai thác; Khu cầu vượt đường sắt; Khu nhà máy; Khu trạm nghiền; Khu bãi thải; Khu bóc lớp phủ, phần đường sắt và đường bộ. Tổng số hộ bị ảnh hưởng bởi dự án là 2.748 hộ, trong đó 1.064 hộ phải di dời. Đến nay dự án đã thu hồi được trên 450 ha, di dời được 400 hộ dân, trong đó 230 hộ đã nhậ đủ tiên và tự di dời, số còn lại đã được bố trí tái định cư.
Cuối năm 2008, cuộc khủng khoảng tài chính thế giới đã ảnh hưởng lớn tới khả năng huy động vốn của Liên doanh. Vì vậy, ngày 21/10/2008 Công ty liên doanh có văn bản số 342/CV-NPVC thông báo về những khó khăn của Công ty và việc Công ty phải hoãn, giãn tiến độ các hạng mục của Dự án. Ngoài ra, bên nước ngoài cũng hối thúc các bên Việt Nam trong Liên doanh phải góp vốn theo tiến độ đã qui định trong Điều lệ Công ty (hạn nộp là 19/11/2008).
Dự án được cấp phép từ 03/02/2004, đến nay đã hơn 6 năm nhưng mới thực hiện được một số công việc chủ yếu thuộc về khảo sát, thiết kế, đền bù giải phóng mặt bằng, nhập khẩu một phần máy móc thiết bị cho khai thác và thực sự chưa đi vào hoạt động.
Theo báo cáo của Doanh nghiệp, việc dự án chậm triển khai, do một số nguyên nhân sau:
- Đây là dự án có qui mô vốn đầu tư lớn và quan trọng liên quan đến khai thác khoáng sản quý hiếm, nằm ở địa bàn kinh tế xã hội khó khăn và nhạy cảm về an ninh quốc phòng.
- Dơ dự án sử dụng quỹ đất lớn, nên công tác di dân, tái định cư, di dời bố trí lại các công trình giao thông triển khai chậm, gặp nhiều khó khăn về bồi thường giải phóng mặt bằng;
- Năng lực tham gia góp vốn của các Bên Việt Nam trong liên doanh còn rất hạn chế, Công ty Batimex góp được 100.000 USD (đạt khoảng 1,5% trách nhiệm góp vốn điều lệ); Intracorp góp được 4 triệu USD đạt khoảng 60,5% trách nhiệm góp vốn điều lệ);
- Việc thay đổi chủ đầu tư trong quá trình thực hiện dự án khá phức tạp, từ TPR (Canada) chuyển sang TBR (Singapore);
Với tình hình thực tế như trên, Thường trực Chính phủ đã hợp bàn và chính thức phê duyệt việc chuyển đổi chủ đầu tư, cơ cấu lại Công ty liên doanh khoáng sản Núi Pháo. Ngày 09/3/2010, Văn phòng Chính phủ đã ra thông báo về ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ về hướng xem xét hoạt động của Công ty liên doanh khai thác khoáng sản Nuí Pháo, tỉnh Thái Nguyên. Tiếp theo đó, ngày 27/5/2010, Văn phòng Chính phủ có công văn số 580/VPCP- QHQT về việc cơ cấu lại Công ty liên doanh khai thác khoáng sản Núi Pháo, tỉnh Thái Nguyên, trong đó chấp thuận phương án tái cấu trúc Công ty và cho phép Công ty cổ phần tập đoàn Masan sẽ sở hữu 85% phần vốn góp trong Công ty liên doanh khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngày 5/7/2010, UBND tỉnh Thái Nguyên đã có Quyết định số 1519/QĐ-UBND về việc chuyển nhượng vốn đầu tư và chuyển đổi thành doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam từ Công ty liên doanh khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo. Đồng thời theo thẩm quyền qui định UBND tỉnh Thái Nguyên đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 17121000026 ngày 21/7/2010 cho Công ty TNHH khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo (được thành lập bởi hai thành viên là Công ty TNHH một thành viên tài nguyên Masan Thái Nguyên và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và đầu tư Thái Nguyên).
Hiện nay, Công ty TNHH khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo đã tiến hành tái khởi động Dự án khai thác, chế biến khoáng sản Núi Pháo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; ngày 26/7/2010, Công ty đã tiến hành chi trả tiền đền bù cho người sử dụng đất bị thu hồi trong vùng dự án là 74,6 tỷ đồng Việt Nam.
Sau khi Công ty được UBND tỉnh Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đầu tư mới, trong thời gian tới, Chính phủ và các Bộ Ngành liên quan sẽ cùng UBND tỉnh Thái Nguyên phối hợp, lưu ý và thúc đẩy nhanh vấn đề giải phóng mặt bằng, tái định cư cũng như khắc phục những vướng mắc còn lại của Dự án để Dự án nhanh chóng đi vào hoạt động đúng tiến độ.
Trả lời:
Tại Quyết định số 2186/QĐ-TTg ngaà 24/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân bổ vốn thực hiện Đề án kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012, tỉnh Thái Nguyên được phê duyệt tổng mức vốn thực hiện đề án cho giai đoạn 2008-2012 là 435,711 tỷ đồng, trong đó có 348,569 tỷ đồng từ nguồn trái phiếu Chính phủ. Đến nay, tỉnh Thái Nguyên đã được phân bổ 256,399 tỷ đồng trong 3 năm 2008-2010.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính xây dựng phương án ứng vốn cho Đề án. Một trong những nguyên tắc và tiêu chí ưu tiên ứng vốn năm 2011 của Đề án là các địa phương có tỷ lệ giải ngân kế hoạch năm 2010 cao (trên 80%). Theo số liệu của Kho bạc nhà nước, tỷ lệ giải ngân kế hoạch năm 2010 vốn TPCP thực hiện Đề án của tỉnh Thái Nguyên đến 31/5/2010 chỉ đạt 62,0%- không thuộc đối tượng ưu tiên ứng vốn năm 2011 của Đề án Kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên. Đề nghị tỉnh Thái Nguyên đẩy mạnh thực hiện giải ngân vốn đã được phân bổ, báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để tổng hợp và làm căn cứ cho việc phân bổ vốn trong kế hoạch năm 2011.
* Cử tri kiến nghị: Đề nghị Chính phủ bổ sung nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu cho tỉnh Thái Nguyên để bố trí cho các công trình hoàn thành cấp thiết cần khởi công trong năm 2010 và đối ứng các dự án ODA với số vốn 290 tỷ đồng.
Trả lời:
Kế hoạch vốn đầu tu phát triển năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1908/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2009, hiện nay không có nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu bổ sung kế hoạch năm 2010. Vì vậy, đề nghị tỉnh chủ động bố trí từ nguồn vốn đã được giao theo Quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện. Riêng đối với nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản 5246/BKH-TH ngày 29/7/2010 trình Thủ tướng Chính phủ để tạm ứng kế hoạch năm 2011 cho các địa phương theo tinh thần chỉ đạo tại Thông báo số 74/TB-VPCP ngày 15/3/2010 của Văn phòng Chính phủ, trong đó có đề xuất tạm ứng vốn đối ứng cho một số dự án ODA của tỉnh Thái Nguyên.
* Cử tri kiến nghị: Đề nghị bổ sung nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho tỉnh để đầu tư vào Bệnh viện Đa khoa tuyến huyện và tỉnh để thực hiện hoàn thành theo đề án được duyệt với mức vốn 420 tỷ đồng; trong đó nguồn vốn cho dự án Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên (dự án do Bộ Y tế làm chủ đầu tư trên địa bàn với số vốn 150 tỷ đồng).
Trả lời: Căn cứ Quyết định 124/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 và Thông báo vốn số 350/BKH-TH ngày 18/01/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2010 tỉnh Thái Nguyên được giao 98 tỷ đồng từ nguồn vốn TPCP (trong đó 45 tỷ đồng cho các dự án bệnh viện tuyến huyện, 53 tỷ đồng cho các dự án bệnh viện tuyến tỉnh), dự án bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên thuộc các dự án của Bộ Y tế được bố trí 40 tỷ. Đề nghị UBND tỉnh Thái Nguyên và Bộ Y tế sử dụng số vốn được giao triển khai thực hiện dự án. Trong trường hợp dự án giải ngân hết số vốn được giao và cấn bổ sung vốn để thanh toán khối lượng hoàn thành, đề nghị tỉnh có báo cáo cụ thể về tình hình thực hiện, khối lượng hoàn thành, kết quả giải ngân để làm cơ sở trình Thủ tướng Chính phủ và làm căn cứ bố trí kế hoạch vốn năm 2011.
* Cử tri kiến nghị:
- Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét chưa thu hồi nguồn vốn ứng trước của dự án đường ĐT 268 năm 2010 với số vốn là 25 tỷ đồng để tỉnh Thái Nguyên tập trung nguồn vốn đầu tư hoàn thành toàn bộ dự án đường ĐT268 trong năm 2010.
- Đề nghị cho phép sử dụng tiếp nguồn vốn ứng trước cho hạ tầng khu công nghiệp Sông Công năm 2009 chưa giải ngân hết sang kế hoạch năm 2010 với số vốn là 9 tỷ đồng để thực hiện giải phóng mặt bằng và đầu tư hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp Sông Công trong năm 2010.
Trả lời:
- Về đề nghị hoãn thu hồi vốn ứng trước: Việc thu hồi vốn ứng trước được thực hiện theo Quyết định số 1149/QĐ-TTg ngày 26/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1908/QĐ-TTg ngày 19/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Đề nghị tỉnh thực hiện theo đúng các Quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ.
- Về nguồn vốn ứng trước cho hạ tầng khu công nghiệp Sông Công: Theo qui định tại điểm a, khoản 1, Điều 2 Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg ngày 05/2/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế- xã hội đối với các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 và Quyết định số 43/2009/QĐ-TTg ngày 19/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN tại các địa phương có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, Thái Nguyên sẽ được ngân sách Trung ương hỗ trợ tổng cộng 170 tỷ đồng, trong đó 100 tỷ hỗ trợ xây dựng hạ tầng 1 KCN và 70 tỷ hỗ trợ các cụm công nghiệp.
Xét các yếu tố về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, cùng với việc hiện nay tuyến đường cao tốc Hà Nội- Thái Nguyên đã khởi công xây dựng sẽ là những yếu tố thuận lợi cho các KCN trên địa bàn tỉnh có cơ hội phát triển. Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhất trí với kiến nghị của tỉnh Thái Nguyên trình Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng các điều kiện và mức hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương cho các KCN của tỉnh như đối với địa phương có điều kiện khó khăn ở khu vực đồng bằng qui định tại Quyết định số 43/2009/QĐ-TTg ngày 19/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ (hỗ trợ cho 2 dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật KCN, tối đa không quá 70 tỷ đồng cho mỗi dự án). Tại công văn số 9388/VPCP-KTTH ngaà 31/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với kiến nghị này.
Về phân bổ vốn hỗ trợ: Hiện nay, khả năng cân đối từ ngân sách Trung ương là rất hạn chế. Bên cạnh đó, cần đảm bảo sự công bằng trong chính sách hỗ trợ từ Trung ương cho các địa phương nên tổng mức hỗ trợ cho 02 KCN và các cụm công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên không vượt quá 70 tỷ đồng. Trong 170 tỷ đồng hỗ trợ cho khu, cụm công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên thì phần vốn hỗ trợ cụm công nghiệp được thông báo chung trong hỗ trợ thực hiện theo Nghị quyết 37/NQ-TW ngaà 01/7/2004 của Bộ Chính trị và do địa phương chủ động bố trí.
Như vậy, ngoài KCN Sông Công, Thái Nguyên sẽ được hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương cho đầu tư hạ tầng KCN 2. Tính đến hết kế hoạch năm 2010, Thái Nguyên đã được ngân sách Trung ương hỗ trợ tổng cộng 90 tỷ đồng cho đầu tư hạ tầng KCN. Theo phương án phân bổ như trên thì KCN Sông Công đã được hỗ trợ hết mức tiến tối đa qui định cho mỗi dự án (70tỷ đồng), phần tiền hỗ trợ còn lại sẽ được điều chuyển sang hỗ trợ cho KCN thứ hai.
Do vậy, đề nghị cho phép sử dụng tiếp nguồn vốn ứng trước cho hạ tầng KCN Sông Công năm 2009 chưa giải ngân hết sang kế hoạch năm 2010 với số vốn là 9 tỷ đồng để thực hiện giải phóng mặt bằng và đầu tư hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải KCN Sông Công trong năm 2010 và không có cơ sở xem xét. Đề nghị tỉnh cân đối, sử dụng đúng nguồn vốn ứng trước cho hạ tầng KCN Sông Công năm 2009 chưa giải ngân hết sang kế hoạch năm 2010 theo như phương án phân bổ mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như Bộ Tài chính đã đề xuất (công văn số 16990/BTC-ĐT ngày 02/12/2009 của Bộ Tài chính và công văn số 9370/BKH-QLKKT ngày 04/12/2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
* Cử tri kiến nghị:
Đề nghị Chính phủ quan tâm chỉ đạo các Bộ, ngành tiếp tục bố trí nguồn vốn đối với các dự án, công trình chưa được đầu tư hoàn thành nhằm xây dựng Thái Nguyên thành trung tâm vùng kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, quốc phòng trong giai đoạn 2011-2020, cụ thể: Bố trí đủ nguồn vốn cho 9 dự án với 52 công trình nhà ở sinh viên sẽ hoàn thành vào tháng 7 năm 2010 với tổng kinh phí là 344.406 triệu đồng, gồm: vốn xây lắp (chưa kể phát sinh theo qui định) là 285.217 triệu đồng; vốn chi phí khác (tư vấn thiết kế, giám sát, chi ban quản lí dự án) là 59.189 triệu đồng.
Thực hiện Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho sinh viên qui định: vốn ngân sách trái phiếu Chính phủ chỉ cấp cho công tác xây lắp, địa phương làm chủ đầu tư chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng. Tỉnh Thái Nguyên đã chi một phần kinh phí cho việc giải phóng mặt bằng đối với các dự án, nhưng Thái Nguyên là địa phương còn nhiều khó khăn, Trung ương phải trợ cấp 70% nên ngân sách tỉnh không có khả năng để bố trí chi các chi phí trên. Hơn nữa, theo Luật Ngân sách việc địa phương chi kinh phí cho công tác giải phóng mặt bằng và chi phí thiết bị cho các dự án là vi phạm Luật. Do vậy, đề nghị Chính phủ xem xét qui định tại khoản 1, Điều 4 của Quyết định trên về nguồn vốn đầu tư xây dựng nhà ở sinh viên từ ngân sách nhà nước “trái phiếu Chính phủ chi cho công tác xây dựng”, thay cụm từ “xây lắp” bằng “xây dựng” vì qui định như vậy mới phù hợp với Luật và thực tiễn (công tác xây dựng bao gồm cả phần chi phí xây lắp và chi phí khác).
Trả lời: Theo thông báo của Văn phòng Chính phủ tại văn bản số 211/TB-VPCP ngày 26/7/2010, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến đồng ý việc ứng vốn năm 2011 cho các dự án xây dựng nhà ở sinh viên đã được TTCP phê duyệt danh mục và đã được bố trí kế hoạch đầu tư năm 2010; giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch ứng vốn cho từng dự án. Vì vậy, đề nghị UBND tỉnh Thái Nguyên làm việc với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan báo cáo kế hoạch ứng vốn cho từng dự án để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ theo qui định.
Về đề nghị sửa đổi các qui định của Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, đề nghị UBND tỉnh Thái Nguyên có văn bản kiến nghị cụ thể trình Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng để được xem xét, sửa đổi. Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện theo chức năng nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao.
* Cử tri kiến nghị: Đề nghị Chính phủ quan tâm xem xét tình trạng mua đi bán lại của các nhà đầu tư đối với dự án Nuiphaovica, tình trạng trên đã làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân xung quanh vùng dự án như: người dân không còn đất canh tác mà dự án thì bỏ không.
Trả lời: Dự án được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy phép số 2377/GP ngày 03/02/2004 với mục tiêu: khai thác, chế biến vàng, đồng, vonfram, fluorit và bismut; cấp Giấy chứng nhận điều chiỉh số 2377/GPĐC1 ngày 26/5/2005, sửa đổi phần mục tiêu và phạm vi kinh doanh, xác định rõ hơn phạm vi địa điểm thực hiện dự án, loại trừ diện tích khu vực mỏ Phục Linh.
Sau khi phân cấp, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ba lần điều chỉnh, cấp các Giấy chứng nhận đầu tư: số 2377/GCNĐC1/17/1 ngày 17/5/2007 thay đổi tên đối tác Việt Nam do sáp nhập công ty và thay đổi tên Công ty; số 2377/GCNĐC2/17/1 ngày 04/12/2007 thay đổi công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Đầu tư Thái Nguyên thành công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Thái Nguyên (Batimex) do đổi tên và Công ty Tiberon Minerals Pte. Ltd (Singapore) thay Công ty Tiberon Minerals Ltd (Canada) và Giấy CNĐT số 2377/GP-TNg ngày 19/5/2008 đăng ký lại dự án đầu tư.
Theo qui định tại Giấy chứng nhận đầu tư, vốn đầu tư đăng ký của dự án là 147.000.000 USD, vốn điều lệ là 44.100.000 USD, trong đó Tiberon Singapore (TBR) góp 30.870.000 USD (chiếm 70% vốn điều lệ); các Bên Việt Nam góp 30% gồm Batimex góp 6.615.000 USD (chiếm 15% vốn điều lệ); Intracorp góp 6.615.000 USD (chiếm 15% vốn điều lệ).
Đến ngày 30/6/2009, tổng số vốn thực góp vào vốn điều lệ là 34.970.000 USD (chiếm 79,3% của vốn điều lệ), trong đó IntraCorp góp 4.000.000 USD, Batimex góp 100.000 USD, Tiberon Singapore (TBR) góp 30.870.000 USD. Tổng số vốn đã vay là 96.227.702 USD. Tổng số vốn đã huy động của Công ty liên doanh là 131.196.702 USD. Tổng chi phí cho dự án là 130,4 triệu USD.
UBND tỉnh Thái Nguyên xác định đây là dự án trọng điểm của tỉnh nên đã tập trung chỉ đạo các sở ban ngành liên quan, UBND huyện Đại Từ phối hợp với các nhà đầu tư khẩn trương triển khai công tác giải phóng mặt bằng. Nhà đầu tư đã thực hiện tốt các qui định của Nhà nước Việt Nam về công tác đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư; thường xuyên báo cáo UBND tỉnh Thái Nguyên và các cơ quan chức năng về công tác đền bù GPMB, tái định cư. Công tác bồi thường GPMB được tiến hành trên diện tích 625 ha, bao gồm: Moong khai thác; Khu cầu vượt đường sắt; Khu nhà máy; Khu trạm nghiền; Khu bãi thải; Khu bóc lớp phủ, phần đường sắt và đường bộ. Tổng số hộ bị ảnh hưởng bởi dự án là 2.748 hộ, trong đó 1.064 hộ phải di dời. Đến nay dự án đã thu hồi được trên 450 ha, di dời được 400 hộ dân, trong đó 230 hộ đã nhậ đủ tiên và tự di dời, số còn lại đã được bố trí tái định cư.
Cuối năm 2008, cuộc khủng khoảng tài chính thế giới đã ảnh hưởng lớn tới khả năng huy động vốn của Liên doanh. Vì vậy, ngày 21/10/2008 Công ty liên doanh có văn bản số 342/CV-NPVC thông báo về những khó khăn của Công ty và việc Công ty phải hoãn, giãn tiến độ các hạng mục của Dự án. Ngoài ra, bên nước ngoài cũng hối thúc các bên Việt Nam trong Liên doanh phải góp vốn theo tiến độ đã qui định trong Điều lệ Công ty (hạn nộp là 19/11/2008).
Dự án được cấp phép từ 03/02/2004, đến nay đã hơn 6 năm nhưng mới thực hiện được một số công việc chủ yếu thuộc về khảo sát, thiết kế, đền bù giải phóng mặt bằng, nhập khẩu một phần máy móc thiết bị cho khai thác và thực sự chưa đi vào hoạt động.
Theo báo cáo của Doanh nghiệp, việc dự án chậm triển khai, do một số nguyên nhân sau:
- Đây là dự án có qui mô vốn đầu tư lớn và quan trọng liên quan đến khai thác khoáng sản quý hiếm, nằm ở địa bàn kinh tế xã hội khó khăn và nhạy cảm về an ninh quốc phòng.
- Dơ dự án sử dụng quỹ đất lớn, nên công tác di dân, tái định cư, di dời bố trí lại các công trình giao thông triển khai chậm, gặp nhiều khó khăn về bồi thường giải phóng mặt bằng;
- Năng lực tham gia góp vốn của các Bên Việt Nam trong liên doanh còn rất hạn chế, Công ty Batimex góp được 100.000 USD (đạt khoảng 1,5% trách nhiệm góp vốn điều lệ); Intracorp góp được 4 triệu USD đạt khoảng 60,5% trách nhiệm góp vốn điều lệ);
- Việc thay đổi chủ đầu tư trong quá trình thực hiện dự án khá phức tạp, từ TPR (Canada) chuyển sang TBR (Singapore);
Với tình hình thực tế như trên, Thường trực Chính phủ đã hợp bàn và chính thức phê duyệt việc chuyển đổi chủ đầu tư, cơ cấu lại Công ty liên doanh khoáng sản Núi Pháo. Ngày 09/3/2010, Văn phòng Chính phủ đã ra thông báo về ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ về hướng xem xét hoạt động của Công ty liên doanh khai thác khoáng sản Nuí Pháo, tỉnh Thái Nguyên. Tiếp theo đó, ngày 27/5/2010, Văn phòng Chính phủ có công văn số 580/VPCP- QHQT về việc cơ cấu lại Công ty liên doanh khai thác khoáng sản Núi Pháo, tỉnh Thái Nguyên, trong đó chấp thuận phương án tái cấu trúc Công ty và cho phép Công ty cổ phần tập đoàn Masan sẽ sở hữu 85% phần vốn góp trong Công ty liên doanh khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngày 5/7/2010, UBND tỉnh Thái Nguyên đã có Quyết định số 1519/QĐ-UBND về việc chuyển nhượng vốn đầu tư và chuyển đổi thành doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam từ Công ty liên doanh khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo. Đồng thời theo thẩm quyền qui định UBND tỉnh Thái Nguyên đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 17121000026 ngày 21/7/2010 cho Công ty TNHH khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo (được thành lập bởi hai thành viên là Công ty TNHH một thành viên tài nguyên Masan Thái Nguyên và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và đầu tư Thái Nguyên).
Hiện nay, Công ty TNHH khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo đã tiến hành tái khởi động Dự án khai thác, chế biến khoáng sản Núi Pháo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; ngày 26/7/2010, Công ty đã tiến hành chi trả tiền đền bù cho người sử dụng đất bị thu hồi trong vùng dự án là 74,6 tỷ đồng Việt Nam.
Sau khi Công ty được UBND tỉnh Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đầu tư mới, trong thời gian tới, Chính phủ và các Bộ Ngành liên quan sẽ cùng UBND tỉnh Thái Nguyên phối hợp, lưu ý và thúc đẩy nhanh vấn đề giải phóng mặt bằng, tái định cư cũng như khắc phục những vướng mắc còn lại của Dự án để Dự án nhanh chóng đi vào hoạt động đúng tiến độ.
Cử tri kiến nghị: “Trong thời gian vừa qua, báo chí và công luận đã nhiều lần lên tiếng về tình trạng đầu tư dàn trải, hiệu quả kinh doanh thấp của một số Tổng công ty Nhà nước. Cử tri đề nghị Chính phủ cần tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với các tập đoàn, tổng công ty lớn trong việc đầu tư và nhanh chóng đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả của mô hình tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước, kiên quyết sắp xếp các Tổng công ty Nhà nước hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài nhiều năm, xử lý nghiêm khắc những cá nhân gây ra việc nợ đọng, thua lỗ”.
Trả lời (Công văn số số 6155/BKH-TH):
Trong giai đoạn vừa qua, việc đổi mới cơ cấu tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ. Nhiều Chỉ thị, Chương trình hành động nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về quản lý doanh nghiệp; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; tiếp tục đẩy mạnh công tác sắp xếp, chuyển đổi và hoàn thiện tổ chức quản lý của các tập đoàn, tổng công ty lớn đã được ban hành và triển khai thực hiện. Có thể kể đến các văn bản sau đây: Chỉ thị số 854/CT-TTg ngày 19/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Kết luận số 45-KL/TW ngày 10/4/2009 của Bộ Chính trị trong việc thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước và bổ sung chính sách chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần; Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 23/2/2010 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 42/2009/QH12 của Quốc hội về việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty Nhà nước; và gần đây nhất là chỉ thị số 1568/CT-TTg ngày 19/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Kết luận số 78-KL/TW ngày 26/7/2010 của Bộ Chính trị.
Liên quan đến việc đánh giá một cách toàn diện hiệu quả của mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước: Hiện tại, việc hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế đang trong giai đoạn thí điểm. Để có cơ sở đưa ra những giải pháp kiện toàn cơ cấu tổ chức, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của mô hình này, Chính phủ đang giao Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp chủ trì tổ chức sơ kết, đánh giá rút kinh nghiệm về việc thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước